Chương 59
Chương 59/356
Hắn chợt nhớ đến chuyện nàng từng viết nhầm tên mèo, trong lòng liền dấy lên nghi ngờ.
Sao lại trùng hợp đến thế? Chẳng lẽ hắn và Từ Ký Mộng đang cùng mơ một giấc mộng? Không thể nào.
Từ nhỏ đã quen đọc kinh Phật, nhưng với Tạ Lăng Chu, Phật chỉ là thứ giúp gột rửa tạp niệm, dưỡng tâm tĩnh khí, chứ chẳng phải tín ngưỡng gì.
Hắn xưa nay không tin vào chuyện thần quỷ quái dị.
Thế nên, với cái suy đoán hoang đường này, Tạ Lăng Chu chỉ bật cười khẽ, lập tức gạt đi.
Mọi người đều đang chăm chú nghe quản sự viện Giảo Lê nói chuyện, chẳng ai để ý đến Tạ Lăng Chu, chỉ có lão phu nhân nhà họ Tạ là nhìn thấu tất cả.
Nhưng lúc này bà lại quan tâm đến chuyện của Từ Ký Mộng hơn, bởi bà biết rõ ngoại tôn nữ của mình rất coi trọng lễ nghi, tuyệt đối không phải chỉ vì gặp ác mộng mà không đến thỉnh an.
Đứa nhỏ này chắc chắn đã mơ thấy chuyện gì đau lòng lắm.
Quản sự viện Giảo Lê đã nhắc đến trước mặt mọi người, hẳn không phải chuyện gì không thể nói, bèn hỏi: “Con bé ấy mơ thấy ác mộng gì vậy?”
Quản sự viện Giảo Lê đáp lời, giọng dè dặt: “Bẩm lão phu nhân, tiểu thư là... là mơ thấy đại tiểu thư.
Trong mơ cứ khóc gọi mãi ‘đừng, đừng’, tỉnh rồi vẫn còn khóc, mãi đến gần sáng mới chợp mắt lại được.
Lão nô tự ý bảo các cô đừng đánh thức tiểu thư, để lão nô tự mình đến xin phép thay.”
Quản sự viện Giảo Lê ngập ngừng một lúc, rồi nói tiếp: “Vừa rồi lão nô hỏi thị nữ thân cận của tiểu thư, mới biết năm đó khi đại tiểu thư mất, tiểu thư... cũng ở ngay bên cạnh.”
Không khí vốn đang rôm rả bỗng chốc lặng ngắt như tờ.
Quản sự viện Giảo Lê sợ lão phu nhân đau lòng nên cố ý nói nhẹ đi, thực ra ai cũng biết phu nhân họ Từ là tự vẫn mà chết.
Người báo tang từ nhà họ Từ kể rằng phu nhân họ Từ đã quyết ý tìm đến cái chết, trước tiên uống thuốc độc rồi mới dùng lụa trắng treo cổ, không để lại cho mình chút đường sống nào.
Người nhà họ Tạ chỉ nghe kể thôi đã không nỡ, huống chi khi ấy Từ Ký Mộng mới bảy tuổi.
Vân thị là người đầu tiên phá vỡ bầu không khí nặng nề: “Ký Mộng là đứa hiếu thuận, năm xưa lão phu nhân họ Từ mất, hai vị gia trong nhà cử người đến quận Quế Lâm định đón con bé về kinh, nhưng nó nhất quyết muốn ở lại chịu tang cho tổ mẫu, một mình ở nhà họ Từ chịu tang suốt ba năm.”
Hôm qua là ngày giỗ trưởng nữ, lão phu nhân vốn đã buồn, giờ không kìm được nữa, vừa rơi nước mắt vừa thở dài: “Là ta, người làm ngoại tổ mẫu này đã không làm tròn trách nhiệm!”
Năm đó, vì con gái mãi không gửi thư về, lão phu nhân giận trong lòng, nên cũng ít quan tâm đến ngoại tôn nữ.
Mãi đến khi Từ Ký Mộng mang theo lời hỏi thăm của mẹ nàng lúc còn sống, bà mới tìm được cớ để làm hòa với con gái, giờ lại càng thương xót cho ngoại tôn nữ.
Nhưng bà đã già rồi, những gì có thể làm cho ngoại tôn nữ cũng chẳng còn bao nhiêu, chỉ mong sớm định xong hôn sự cho nàng là yên tâm, bèn nén nỗi buồn, nghiêm túc dặn dò Tạ Lăng Vũ: “Con cũng thấy rồi đấy, biểu muội của con chẳng dễ dàng gì, sau này phải đối xử thật tốt với con bé, đừng có học mấy công tử ngoài kia sáng nắng chiều mưa!”
Tạ Lăng Vũ đang thương xót cho nàng, liền vội vàng đáp lời.
Vương thị cũng phụ họa: “Mẫu thân cứ yên tâm, nếu A Vũ dám làm bậy, con sẽ đánh gãy chân nó!”
Mọi người giải tán, lão phu nhân giữ trưởng tôn ở lại.
Tạ Lăng Chu vẫn bình thản như thường, như thể chuyện hôm qua chưa từng xảy ra, hai bà cháu cũng ngầm hiểu mà không nhắc đến.
Lão phu nhân nhớ lại cảnh cháu trai thất thố vừa rồi, tuy bà chỉ muốn ngoại tôn nữ gả về nhà họ Tạ làm cháu dâu, gả cho ai cũng được, nhưng bà nhìn ra nhị tôn và ngoại tôn nữ hai bên đều có ý, nếu trưởng tôn lại thích ngoại tôn nữ nữa thì ba đứa nhỏ đều khó xử.
Vì vậy, lão phu nhân cũng không dám chắc cháu trai thất thố là vì ngoại tôn nữ, nhưng để tránh hậu họa, bà giả vờ vô tình nhắc nhở: “Biểu muội nhà họ Từ của con thân thế đáng thương, sau lưng chẳng có ai chống đỡ, chỉ cần đi sai một bước là cả đời khổ sở, nếu gả cho người không biết thương yêu thì càng khổ.
May mà nó với A Vũ hai bên đều có tình, A Vũ lại biết nghĩ, chứ nếu nó gả vào nhà khác, bà già này cũng không biết phải lo lắng thế nào cho đủ...”
Tạ Lăng Chu âm thầm siết chặt nắm tay trong tay áo.
Đêm qua ở gần giả sơn, để kiềm chế bản thân, ngón tay hắn đã cào đến bật máu trên vách đá, giờ vừa nắm tay lại đã thấy cơn đau âm ỉ lan ra.
Cơn đau ấy chạy khắp tứ chi, rồi lan tận vào tim.
Nó nhắc hắn phải tự giữ mình, phải nhớ biểu muội là vị hôn thê của nhị đệ, là em dâu tương lai của hắn, càng phải nhớ không được để tổ mẫu thất vọng, càng không thể phá vỡ cuộc đời yên ổn của nàng.
Tạ Lăng Chu cứ thế siết chặt nắm tay, mặc cho cơn đau hoành hành, ngoài mặt vẫn không lộ chút gì, chỉ nhàn nhạt đáp: “Nhị đệ tình nghĩa, tổ mẫu cứ yên tâm.”
Lão phu nhân thấy hắn vẫn bình thản, nghĩ chắc mình đã lo hão, bèn dịu giọng: “Trước đây tổ mẫu hồ đồ, nghe lời đồn nên nóng ruột, là tổ mẫu có lỗi với con.”
Tạ Lăng Chu không muốn nhắc lại chuyện đêm qua, liền lướt qua: “Cháu biết, tổ mẫu cũng chỉ muốn tốt cho cháu thôi.”
Hôm nay vì chuyện trưởng nữ và ngoại tôn nữ mà buồn lòng, lão phu nhân càng thêm cảm khái: “Ôi, năm xưa nhà họ Giang hồ đồ!
