Chương 144: Mười Bốn Năm Truy Tìm Hung Thủ (10)
Chương 144/270
Mưa mùa hạ ở nơi này chỉ có thể gột rửa cái nóng khô khốc bên ngoài chứ chẳng thể xua đi bầu không khí oi bức tựa như chiếc lồng hấp trong căn nhà.
Sự ngột ngạt khiến trong lòng Ngô Dạng hoảng loạn, toàn thân khó chịu. Cô hận không thể đẩy cửa lao ra ngoài để hít thở thật sâu, còn hơn là phải đứng dưới ánh đèn chói mắt, lắng nghe một câu chuyện tàn nhẫn tựa như đang chờ đợi bị tuyên án tử hình.
Cô đứng chết trân ngay cửa. Trách nhiệm của một cảnh sát thôi thúc cô cất tiếng chất vấn trực diện, nhưng tâm thái của một người con cháu lại khiến cô muốn trốn chạy.
Lâm Xuân Chi vội vàng đẩy cô, giục cô về đi ngủ: “Muốn ra oai thì để mai hãy đến, mẹ với ba và bà nội con đều phải đi ngủ rồi. Các bác con cũng đang ở đây, đừng làm phiền mọi người nghỉ ngơi.”
“Mẹ…”
“Bảo con về đi ngủ!”
Ba của Ngô Dạng đứng ngơ ngác ở giữa giảng hòa: “Làm cái gì vậy? Sao hai mẹ con cứ lạ lùng thế nào ấy? Muốn hỏi gì thì cứ nói, nhưng mẹ con chạy về đây cũng mệt lắm rồi…”
“Liên quan gì đến ông, ông im miệng đi!”
“Ba đừng nói nữa!”
Lời của hai mẹ con va vào nhau, âm lượng lớn mà hỏa khí cũng lớn, nói xong lại đồng thời im bặt.
Ba của Ngô Dạng cảm thấy khó hiểu, trong lòng cũng sinh ra bực bội. Ngay khi ông định nổi nóng thì bà nội Ngô mệt mỏi lên tiếng: “Được rồi.”
Sau đó bà bình thản nói: “Dạng Dạng, vào phòng con đi, con có gì muốn hỏi thì cứ hỏi.”
Hai bà cháu đi sang phòng bên cạnh. Cánh cửa vừa khép lại, trong không gian chật hẹp dường như chỉ còn lại tiếng hít thở và nhịp tim đập.
Thật ra Ngô Dạng đã không còn sống ở đây từ lâu. Sau khi đi làm, cô thuê nhà rồi mua nhà, đồ dùng thường ngày cũng đã chuyển đi sạch sẽ. Giờ đây, căn phòng nhỏ này chỉ còn lại bằng khen và sách vở thời đi học, chiếc bàn học hình chú ếch xanh đã phủ một lớp bụi mờ.
Khi còn bé, ông bà nội đều từng ngồi bên chiếc bàn này dạy cô tập đếm và nhận mặt chữ.
Ngô Dạng hít sâu một hơi mới dám ngẩng đầu lên, bà nội ngồi đối diện vẫn luôn nhìn cô bằng ánh mắt ôn hòa.
“Chiều nay mẹ con đã nói với bà rồi, các con vẫn đang điều tra người thứ ba của năm đó.”
“…Là bà sao?” Cô hỏi một câu không đầu không đuôi, giọng nói trở nên khó khăn.
Bà nội Ngô gật đầu: “Bà biết cháu thông minh mà. Bà đã nói với mẹ con là sớm muộn gì con cũng tra ra mà nó còn không tin.”
Nói xong, bà quay đầu nhìn khuôn mặt mờ ảo của mình phản chiếu trên cửa kính. Khi nhớ lại chuyện xưa, giọng bà vô thức mang theo tiếng thở dài: “Bà biết mà, tên cướp đó đã nhìn thấy bà.”
Ngô Dạng không biết lúc này vẻ mặt mình ra sao, cô gần như dựa vào bản năng thẩm vấn để tiếp tục cuộc trò chuyện: “Tại sao ạ?”
Bà nội Ngô không trả lời trực tiếp mà ngược lại hỏi cô: “Dạng Dạng, con còn nhớ bà tên là gì không?”
“Bạch… Bạch Tĩnh Dung.” Cô biết cái tên này từ hồi tiểu học tập viết chữ, nhưng mấy chục năm qua, hiếm khi thấy ai gọi tên thật của bà.
Bà là bà nội, là mẹ, là thím hai nhà họ Ngô, là mẹ chồng, rất ít khi bà được là Bạch Tĩnh Dung.
“Thật ra bà tên là Thân Tĩnh Dung, họ Bạch là do bà đổi khi đến huyện Ngũ Khúc. Lúc đó cha bà lấy vợ kế, đuổi bà về đây làm thanh niên xung phong nên hộ khẩu cũng nhập vào danh nghĩa một người họ hàng xa, cho nên mới đổi sang họ Bạch.”
Bên ngoài trời lại bắt đầu đổ mưa, tiếng mưa rả rích nuốt chửng những cảm xúc khác trong lời nói của bà, chỉ còn lại giọng kể bình thản.
“Đó là năm 60, bà vừa mới đến huyện Ngũ Khúc, cái gì cũng không biết làm. Không biết gặt lúa, không biết trồng dưa tỉa đậu, thậm chí còn chưa từng giặt quần áo bao giờ, không biết phải nuôi sống bản thân thế nào.”
“Gia đình nhận nuôi bà khuyên bà nên sớm thích nghi, nếu thực sự không được thì tìm người mà gả, để người ta làm giúp cho. Sau đó có người giới thiệu ông nội con cho bà. Ông ấy lý lịch trong sạch, họ hàng lại đông nên rất thích hợp.”
“Ông ấy ưng bà vì bà đẹp lại không đòi hỏi sính lễ, bà ưng ông ấy vì thành phần xuất thân tốt, trong nhà lại có nhiều lao động khỏe mạnh. Cứ thế, bà và ông nội con mơ hồ kết hôn, cứ tưởng là có thể thở phào nhẹ nhõm. Kết quả ông nội con lại ghét nhất loại người như bà.”
Ngô Dạng khẽ mở to mắt.
Bà nội Ngô rũ mắt, xoa xoa đầu gối đau nhức, tiếp tục nói: “Ông ấy coi thường bà, không lườm nguýt thì cũng châm chọc bà là tiểu thư thành phố. Thời đó cách gọi ấy nguy hiểm lắm, bà sợ vô cùng nhưng cũng không phục, bèn nuốt cục tức đó vào trong, cố gắng thay đổi bản thân theo dáng dấp của những người phụ nữ khác.”
“Năm 63, nhà ga tuyển công nhân bốc vác, mọi người vì muốn kiếm chút tiền nên ngày nào cũng đi vác bao tải. Ông ấy bảo bà không vác nổi, bà bèn cắn răng vác hai bao, còn nhiều hơn cả ông ấy. Cứ tưởng ông ấy sẽ vui vẻ hơn chút, nào ngờ sắc mặt ông ấy càng khó coi hơn. Cải dầu trong nhà đến lúc đập, lạc đến lúc đào, bà đều xung phong làm trước, học cách làm. Đường sắt tuyển công nhân thời vụ vận chuyển đá, bà cũng đi theo, làm việc như đàn ông, kiếm được ba đồng mang về đưa cho ông ấy chi tiêu trong nhà. Như thế ông ấy mới bớt nói mát mẻ châm chọc và chịu cho bà chút sắc mặt tốt.”
“Tình hình lúc đó không giống bây giờ, có thể sống yên ổn qua ngày là bà đã thấy mãn nguyện rồi. Năm 65, bà mang thai bác cả con. Lúc được chín tháng, đang ở ngoài ruộng thì vỡ ối, được người ta khiêng về. Ca đó sinh khó, bà suýt chút nữa thì chết ở nhà.”
“Con biết lúc đó ông nội con đang làm gì không? Người ta báo tin bà sắp sinh, nhưng ông ấy không về nhà mà đi chèo thuyền giúp người khác, làm không công. Người ta mời ông ấy đi ăn tiệm, ông ấy ăn uống no say rồi mới về, đến bát nước cũng chẳng rót cho bà, tay không vào phòng nhìn đứa bé một cái rồi đi ngủ. Lúc đó bà giống như đống thịt nát, nằm lẫn trong vũng máu trên giường, cùng khóc với bác cả con.”
Chuyện này cả đời bà cũng không quên được. Nói đến đây, giọng điệu của bà cuối cùng cũng có chút thay đổi, mang theo sự run rẩy và oán hận.
“Ông ấy thật sự rất tàn nhẫn! Mặc kệ bà sống chết ra sao, cũng mặc kệ bác cả con sống chết thế nào. Bà ở cữ đến bát nước đường đỏ cũng không có mà uống, không có sữa cho con bú nên bác cả con suýt nữa thì chết đói. Bà khóc lóc làm loạn với ông ấy, muốn về nhà mẹ đẻ, muốn tìm người giúp đỡ, nhưng ông ấy lại mắng bà bây giờ chỉ là một phần tử xấu không ai thèm, muốn chạy cũng không thoát…”
“Năm 67, bà mang thai bác hai con. Thật ra bà không muốn đẻ nữa nhưng ông ấy uống say rồi cố tình… cố tình khiến bà mang thai. Mới một năm đã lại sinh con, chẳng tốt cho cơ thể chút nào nên lần đó bà lại suýt bị sinh khó. Nhưng bà không cầu xin ông ấy nữa.”
“Bác cả và bác hai con đều giống bà, ông nội con chẳng thích họ chút nào. Bà biết dựa vào ông ấy vô dụng rồi, biết ông ấy muốn chèn ép bà. Ra tháng, bà mặt dày đi theo người ta học buôn bán, ngày nào trời chưa sáng đã đi đến chợ thị trấn cách mười mấy cây số bán chút đồ lặt vặt, đến tối mịt mới về nhà.”
“Có tiền, lại có cha mẹ anh chị của ông ấy giúp trông con, ngày tháng cứ thế trôi qua. Nhưng ông ấy vẫn cứ nhìn bà không thuận mắt. Năm 68, không biết ông ấy nghe ai nói, hoặc có thể do ông ấy tự suy diễn, bảo bà có quan hệ mờ ám với một người đàn ông ngoài chợ, ngày nào cũng đi sớm về khuya là để đi gặp người đó. Ông ấy trực tiếp ra chợ, lôi bà đi trước mặt bao nhiêu người, tát vào mặt bà, nhốt bà trong nhà mà đánh.”
“Bà không chịu nổi đòn roi, làm ầm lên đòi nhảy sông, đòi giết ông ấy. Ông ấy lại quỳ xuống van xin bà, mời rất nhiều người đến hòa giải, từ người trên trấn, trong thôn cho đến mẹ kế của bà. Đó là cầu xin sao? Đó là đe dọa. Ông ấy muốn bà nhìn cho rõ, bà là một kẻ ngoại lai không ai cần, không còn chốn dung thân.”
“Gần đến năm 70 thì bà mang thai ba con. Ba con giống hệt ông nội con, cuối cùng ông ấy cũng chịu đối xử tốt với con cái một chút. Nhưng bà thực sự quá ghét dáng vẻ của ba con, không muốn cho bú, cũng không muốn bế ẵm. Ông ấy cũng chẳng để tâm, bao nhiêu tiền đều dồn hết cho một mình ba con, giống như muốn so bì với bà xem con ai nuôi, con giống ai sẽ có tiền đồ hơn vậy.”
Người đứng ngoài cửa lặng lẽ chết trân tại chỗ, bóng đổ xuống mặt đất ngắn ngủi mà nhạt nhòa.
