Chương 15
Chương 15/15
Thời gian xoay vần theo từng mùa, tuổi tác cũng ngày một tăng lên.
Chớp mắt đã mười mấy năm trôi qua.
Cố Lưu càng ngày càng trầm lặng, tuấn mỹ, trong hậu cung không một bóng người. Vô số thiếu nữ tài sắc tranh nhau để được nhập cung, nhưng hắn không mảy may hứng thú. Các lão thần cũng nhiều lần khuyên răn, lo lắng vì hắn không có người nối dõi.
Cố Lưu không phải không chịu nghe mọi ý kiến. Những ý kiến hợp lý, hắn đều tiếp thu. Vì vậy, hắn chọn một số đứa trẻ từ các tông thất Hoàng gia, nuôi dưỡng nhiều năm, trong đó nổi bật nhất là một bé gái. Cố Lưu phong nàng làm Công chúa, nàng sẽ là người thừa kế của Vương triều sau này.
Thế là các lão thần không còn phản đối gì nữa, chuyển sang dốc lòng đào tạo vị Tiểu Công chúa.
Khi Cố Lưu kiểm tra bài vở của Tiểu Công chúa, nàng đều xuất sắc trong cầm kỳ thư họa, các vị thiếu sư đều tự hào mà khen ngợi. Một tên thái giám quan sát nét mặt của Cố Lưu, đoán ý mà nói: “Tiểu điện hạ thật giống với Liễu đại nhân khi xưa.”
Nhưng nét mặt Cố Lưu chẳng có gì thay đổi, không chút biểu cảm, khiến người ta không thể đoán được hắn đang nghĩ gì. Tên thái giám chợt nhận ra lời tâng bốc của mình có lẽ đã trật lối, mồ hôi lạnh tuôn ra, chưa kịp nghĩ cách cứu vãn, đã nghe thấy Hoàng thượng khẽ nói:
“Không giống.”
Không một ai giống nàng, và nàng cũng không giống bất kỳ ai.
Nàng là một tồn tại độc nhất vô nhị.
Mỗi người trên đời đều là độc nhất vô nhị, nhưng A Đào là người duy nhất mà hắn nhận ra giữa đám đông.
Cố Lưu bị mất ký ức, nếu còn nhớ, hẳn hắn sẽ nhớ ngày gặp lại mẫu thân, là do A Đào bày kế giả chết để cứu bà. Sau khi mẫu thân nghỉ ngơi, hắn quay lại, thấy một tiểu cô nương ngồi trên chiếc cầu vòm nhỏ, rửa sạch lớp phấn vàng nâu trên mặt, lộ ra dung nhan thuần khiết như bạch ngọc không nhiễm bụi trần. Nàng nghịch đùa với mấy con cá dưới làn nước, và khi phát hiện hắn đang nhìn, nàng ngẩng đầu lên, cười rạng rỡ như ánh dương.
Nghĩ lại ngày hắn quay về kinh thành, trong cung tổ chức một yến tiệc linh đình. Cố Lưu ứng phó với những mũi nhọn lời nói từ triều thần phía trước, còn nàng đứng lặng lẽ trong góc tối mờ, nơi những cung nhân đi qua lại mà chẳng ai để ý. Sự hiện diện của nàng không hề thu hút ánh nhìn nào, nhưng Cố Lưu chỉ cần một ánh mắt là đã nhận ra nàng trong đám đông. Đó chính là thiếu nữ mà dù ở đâu hắn cũng có thể nhìn thấy ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Cố Lưu đôi lúc mơ thấy những giấc mơ rất kỳ lạ. Dù khi tỉnh lại, hắn không nhớ được nội dung, nhưng cảm giác những giấc mơ ấy chẳng phải là những chuyện đã xảy ra. Chẳng hạn, hắn mơ mình là một Bạo quân tàn nhẫn, gần như mất kiểm soát đến mức suýt bóp cổ A Đào đến chết, nhưng rồi bị nàng đâmvào lòng bàn tay, nhờ đó tỉnh lại. Trong giấc mơ, hắn cảm thấy rất áy náy.
Hồi đó, có vẻ như hắn và A Đào chưa quá thân quen, nhưng nàng thực sự khác biệt. Hắn chán ghét tất cả, kể cả chính mình, nhưng riêng nữ tử ấy lại tựa như một dòng nước trong vắt, khiến hắn không nỡ phá hủy.
Hắn mơ thấy A Đào từng nuôi một con thỏ, rất xấu xí, nhưng nàng lại coi như bảo bối. Rồi con thỏ bị chó cắn chết, nữ tử ấy gần như khóc, trông đầy uất ức, nhưng lại nhất quyết không rơi nước mắt. Nàng không phải là người không có nước mắt, chỉ là với nàng, nước mắt là vũ khí, khi muốn khóc giả tạo thì nước mắt có thể rơi bất cứ lúc nào, nhưng khi thật sự muốn khóc, nàng lại cố gắng kìm nén, như thể giả vờ mạnh mẽ sẽ giúp nàng không bị tổn thương.
Người mẹ của nàng vốn chẳng chăm lo tốt cho nàng, đến mức nàng không dám khóc. Có lẽ khi còn bé, mỗi lần khóc nàng chỉ nhận lại sự trách mắng. Hắn, hồi ấy có lẽ cũng là kẻ xấu xa, nhưng trái tim lại mềm yếu đến mức khó ngờ.
Hắn không kìm được mà nghĩ về nàng. Thấy nàng uất ức, hắn luôn cảm thấy lòng mình cồn cào khó chịu. Về sau, từng bước một, hắn dìu dắt nàng trưởng thành, để nàng trở nên mạnh mẽ. Mỗi khi nàng tự nghi ngờ và phủ nhận bản thân, hắn đều nghiêm túc nói với nàng, "Nàng rất tốt." Cuối cùng, hắn thực sự đã bồi dưỡng nàng thành một người tuyệt vời.
Dần dần, hắn hiểu ra ý nghĩa của nàng đối với mình. Khi còn trẻ, hắn đã vô tình để lại chút ánh sáng trên nàng, rồi cuộc đời đầy bất trắc khiến hắn trở thành một kẻ tàn nhẫn, chỉ còn lại ác ý với thế gian, chỉ cảm nhận được sự tàn nhẫn, nhưng A Đào lại là sự thiện lương duy nhất hắn để lại trên cõi đời. Nàng là nơi gửi gắm phần thiện ý trong tâm hồn hắn.
Bề ngoài nhìn có vẻ như hắn luôn cứu vớt A Đào. Nhưng thực chất, nàng cũng là sự cứu rỗi của hắn, là nơi gửi gắm cái "tôi" cũ kỹ không chỗ nào để nương tựa, là điểm tựa duy nhất để hắn có thể bộc lộ một cách vô tư lự.
Khi tỉnh dậy, Cố Lưu vẫn không nhớ được giấc mơ, nhưng không hiểu sao, hắn lại bảo người tìm đến rất nhiều thỏ để nuôi. Tuy nhiên, sau một thời gian nuôi, hắn lại cảm thấy chúng nhạt nhẽo và vô vị. Trong lòng hắn luôn có một khoảng trống không thể lấp đầy, một cảm giác trống vắng và tiếc nuối.
Nhiều năm trôi qua, trong tẩm cung của hắn vẫn giữ một chiếc đèn cầu phúc cũ kỹ. Trên đó, dòng chữ mờ nhạt đã phai màu theo năm tháng: "Nguyện quân trường mệnh bách tuế, tuế tuế bình an."
Cố Lưu đã không còn nhớ rõ tuổi tác của mình nữa. Cô công chúa bé nhỏ ngày nào giờ đã trưởng thành, thậm chí bắt đầu có những nếp nhăn. Hắn thường nghe vài cận thần phàn nàn rằng công chúa tốt về mọi mặt, chỉ có điều nhan sắc không còn như xưa. Cố Lưu chẳng bận tâm, chỉ cần nàng đủ thông minh là được.
Hắn nuôi cả một hồ đầy cá nhỏ xinh đẹp, càng ngày càng nhiều, đến nỗi đầy khắp các hồ trong cung. Cuối cùng, hắn quyết định thả chúng về dòng suối trên núi. Khi đến nơi, hắn nghe nói trụ trì của ngôi chùa gần đó sắp viên tịch. Người dân mời hắn đến, và ông lão sư trụ trì, đã trắng râu, đã sống nhiều năm và giờ đã quá yếu, nhìn Cố Lưu với ánh mắt trầm mặc bi ai.
Ông nói: "Ở bờ suối sau núi có một con ngựa già, năm xưa có một cô nương gửi gắm nó cho bần tăng. Chớp mắt một cái, đã bao nhiêu năm trôi qua."
Nói xong câu ấy, ông lão nhắm mắt ra đi. Cố Lưu đi đến bên suối sau núi, nơi tảng đá mà ông lão vẫn thường ngồi câu cá, giờ đã phủ đầy rêu phong, cỏ dại um tùm. Sau khi thả hết số cá, hắn nhìn thấy con ngựa trắng già cỗi đứng gần đó.
Hắn định dắt nó về cung để các mã phu chăm sóc cho đến cuối đời. Nhưng khi đi qua cổng chùa, con ngựa như cảm nhận được điều gì, đôi mắt long lanh lệ rơi.
Khi còn là ngựa con, con ngựa này đã theo vị lão hòa thượng đi khắp núi sông hồ nước, chứng kiến biết bao cảnh lạnh lẽo và ấm áp của nhân gian. Họ đã đồng hành bên nhau suốt nhiều năm như những người bạn cũ. Khi vị lão hòa thượng viên tịch, con ngựa già, vốn còn khỏe mạnh, đột nhiên bệnh nặng và ra đi vào một đêm bình thường. Có lẽ trước khi chết, nó có thể nhớ lại thời thơ ấu tự do chạy nhảy giữa những triền núi đầy hoa xuân, khi chủ nhân đeo cho nó một vòng hoa trên đầu và cùng nó quấy rầy lão trụ trì đang ngồi câu cá.
Mẫu thân của Cố Lưu sau khi già đi, thường ngồi bên cửa sổ nhỏ trò chuyện với nữ nhân điên trong Tây Uyển. Dù bà không chắc nữ nhân ấy có nghe được hay không, nhưng những người bạn thời thiếu nữ của bà, kẻ thì đã đi xa, người thì đã qua đời, không còn ai để bà giãi bày tâm sự.
Nữ nhân điên đã có mái tóc bạc, không còn những cơn điên loạn như trước, mà chỉ lặng lẽ nhìn trời đất, mỗi ngày ngắm mặt trời mọc rồi lặn, thần sắc trống rỗng. Chỉ khi có người đi qua, bà mới bám vào song cửa hỏi: "Ngươi có thấy A Đào của ta không?"
Không ai đáp lại bà.
Về sau, bà chết trong một đêm tuyết lạnh. Lúc chết, bà gục cạnh giường, như thể đang cố gắng bò về phía góc phòng, có lẽ vào giây phút cuối cùng, bà nhớ lại đêm bà để nữ nhi mới chào đời nằm lạnh lẽo trong góc nhà.
Nữ nhân điên qua đời, Diệp phu nhân bỗng nhiên cảm thấy cô độc, ít khi nói chuyện. Vài năm sau, bà qua đời một cách thanh thản, không đau bệnh.
Cố Lưu, với lòng nặng trĩu, đã tổ chức tang lễ linh đình, phong quang chôn cất. Quan viên từ khắp nơi đổ về kinh để dự lễ. Các lão thần đa phần đã khuất, triều đình xuất hiện nhiều khuôn mặt mới. Trong số đó, có một người trông có nét gì quen thuộc. Hỏi ra mới biết đó là nhi tử của Liễu Hi Yên, vừa được thăng chức không lâu.
Cố Lưu hỏi về gia đình của hắn, vị quan trẻ tuổi vô cùng bất ngờ và vội quỳ xuống đáp: "Tổ mẫu của thần đã qua đời từ lâu, phụ mẫu thần hiện ở Lâm An, chăm sóc cháu chắt... Mẫu thân đã lâu không nhắc đến cố nhân."
Cố Lưu cho vị quan lui. Tại yến tiệc trong cung, hắn lại thấy Vệ Khinh Vũ. Đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ lần gặp cuối. Vũ An hầu đã mất từ lâu, Vệ Khinh Vũ kế thừa tước vị, đã nhiều năm đóng quân tại biên cương. Giờ đây nàng đã trở thành một nữ tướng uy nghiêm vạm vỡ, bên cạnh có vài mỹ nam và một nhi tử còn trẻ.
Ai nấy đều tiếp tục bước về phía tương lai. Chỉ riêng Cố Lưu vẫn mãi dừng chân ở mùa đông năm Sùng An nguyên niên, khi trận tuyết rơi trắng xóa khắp cuộc đời hắn.
Sau này, Vệ Khinh Vũ tử trận. Hậu nhân của nàng bày đầy bánh ngọt lên mộ. Liễu Tích Dung trở thành một cư sĩ nổi tiếng, dưới tay có đến ba nghìn học trò. Trạng nguyên mới của triều đình chính là môn đệ của bà. Lục Cẩm, sau khi cha già qua đời, bỗng trở nên trưởng thành, tự mình học buôn bán và sổ sách, chèo chống gia nghiệp nhà họ Lục, đi khắp mọi nơi. Thập Ngũ, bị tái phát vết thương cũ, phải nằm trên giường an dưỡng hàng ngày.
Rồi những người đó cũng lần lượt qua đời.
Cố Lưu không rõ mình có thực sự sống đến trăm tuổi không. Trí nhớ của hắn đã giảm sút, các đồng liêu cùng thời đều lần lượt rời xa, cung cấm cũng thay đổi vô số lần, những gương mặt quanh hắn đều là những người trẻ không quen biết.
Thị vệ bên cạnh là một người xa lạ. Cố Lưu phải nhìn rất lâu mới nhớ ra đó có thể là đồ đệ của Thập Ngũ, từng là đứa nhỏ đứng chật cửa để nhìn lén khi xưa.
Nhưng thị vệ lại nói: "Chủ nhân, Thập Ngũ đại nhân là sư tổ của thuộc hạ."
Cố Lưu khựng lại.
Thật ra, hắn đã không còn nhớ rõ nhiều chuyện, không nhớ nổi dung mạo của một số người. Chỉ nhớ, vào một năm nào đó, một tháng nào đó, hắn từng mơ một giấc mơ.
Lờ mờ nhớ đến cảnh phố phường, xe ngựa và một đôi mắt đẹp đẽ trong sáng.
Khi Cố Lưu hấp hối, xung quanh là một đám người, đa phần hắn không nhận ra là con cháu của ai. Câu nói cuối cùng của hắn, là một lời tràn đầy tiếc nuối, "Cho đến nay, trẫm vẫn muốn được mơ thấy nàng."
Người khác không biết nàng là ai, nhẹ nhàng hỏi, "Là ai vậy?"
Cố Lưu im lặng.
Những người xung quanh đợi rất lâu, đến khi run rẩy đưa tay về phía hắn mới nhận ra, Hoàng đế đã lặng lẽ qua đời tự lúc nào.
Trận tuyết mùa đông năm Sùng An nguyên niên ấy, đã vùi lấp quá nhiều buồn vui ly hợp.
Cố Lưu sẽ mãi không bao giờ biết rằng, mùa đông năm ấy, A Đào đã từng bước trên tuyết, viết xuống vài dòng chữ vượt qua kiếp trước và kiếp này:
“Ánh trăng lẽ ra nên treo cao trên tầng mây.”
“Ta từng vùng vẫy giữa bùn đất để nhìn thấy ánh trăng. Ánh sáng ấy không sinh ra vì ta, nhưng thực sự đã chiếu lên người ta. Ta dùng nước đục bẩn để nâng niu từng tia sáng lấp lánh của trăng.”
“Rồi trăng rơi xuống, ta thấy nó chìm vào bùn lầy, mất đi ánh sáng nhưng vẫn cố gắng bay lên trời cao. Và giữa không trung, bất ngờ vỡ tan.”
“Về sau, ta có cơ hội nâng trăng lên, dùng hết cả đời mình, từng bước một, nhẹ nhàng đặt trăng về lại trên trời.”
“Giữa bầu trời rộng lớn, có mặt trời, sao trời, ánh hoàng hôn cùng trăng làm bạn.”
“Tạm biệt, trăng của ta.”
Dù là kiếp trước hay kiếp này, dường như họ chưa bao giờ nói với nhau rằng mình thích đối phương.
A Đào kiếp trước đã quen viết thư cho Cố Lưu, nói những lời vụn vặt. Giờ đây, bức thư tự lẩm bẩm như lời tự nói ấy, chắc chắn sẽ không thể gửi đi. Nàng bèn viết trên mặt tuyết. Gió thổi qua, tuyết rơi phủ lên, chữ viết dần tan biến, sẽ chẳng có ai nhìn thấy.
Không biết phải đi đâu, A Đào bèn tới ngôi chùa của lão hòa thượng, dự định cùng lão đi chu du sơn hà. Nhưng khi đến nơi, nàng phát hiện ra lão đã lên đường từ lâu, không biết đã đi về đâu.
Nàng đã nghĩ tới rất nhiều nơi, rồi chợt muốn trở về nhà - ngôi nhà nằm trên núi ở Lạc thành xa xôi.
Nhiều năm về trước, nàng đã rời khỏi ngọn núi heo hút ấy, trải qua hai kiếp phong ba bão táp, đi qua nhiều nơi, thấy được cả núi non biển cả, chứng kiến chốn xa hoa cùng phồn hoa tột đỉnh. Nhưng lúc gần đất xa trời, nàng lại chỉ muốn quay về góc nhỏ đó - nơi chẳng cao lớn hùng vĩ, cũng chẳng giàu sang phù hoa.
Nơi đó, từng có một A Đào nhỏ bé.
Cận kề cái chết, nàng bước đi mãi, tiến từng bước về căn lều tranh cũ kĩ cách đó ngàn dặm.
Thân thể nàng mỗi lúc một suy yếu, kiếp trước nàng đã cứu sống nhiều người, nhưng chẳng thể cứu nổi Cố Lưu. Kiếp này, nàng lại cứu nhiều người, nhưng vẫn không thể cứu chính mình.
Nàng nhớ về ngày rời căn nhà nhỏ của kiếp trước, dùng số bạc dành dụm để mua một bịch bánh gạo, mong muốn mang tặng mẫu thân, nhưng lại bị ép rời nhà ngay sau đó. Bánh bị ném xuống đất, dẫm nát không chút xót thương.
Dù sau này sống đủ đầy, nàng dường như vẫn chưa bao giờ ăn lại món bánh gạo mà mình hằng ao ước thuở nào.
Còn kiếp này, nàng cùng Cố Lưu rời căn nhà nhỏ đó. A Đào nhớ lại hôm ấy, nàng bị thương ở chân, mắc kẹt trong núi, Cố Lưu tìm thấy nàng và cõng nàng về nhà.
Đêm hôm đó, ánh trăng sáng ngời chiếu rọi nhân gian, đàn đom đóm nhỏ theo chân họ. Nàng an tâm thiếp đi trên lưng hắn.
Nàng băng đèo vượt suối, ngã xuống ngay gần căn lều cũ, chỉ còn vài bước nữa, nhưng đến lúc chết cũng chẳng thể quay về. Về sau, có người tốt bụng đi ngang qua, đã chôn nàng trong sân hoang ấy, trồng lên một cây lê, mỗi độ xuân hoa lại nở rộ.
Cả đời nàng, dường như mùa đông luôn chiếm quá nhiều thời gian, nhưng mỗi lần gặp gỡ hay ly biệt, đều là mùa xuân. Là mùa xuân khi nàng - một kẻ ăn mày - lần đầu gặp Cố Lưu; là mùa xuân khi kiếp trước bị đẩy về phía hắn trong cung cấm; là mùa xuân khi kiếp này nhặt được Cố Lưu từ ngôi miếu đổ nát.
Và bây giờ, lại là mùa xuân đến sau một mùa đông lạnh lẽo.
Khi nàng qua đời, chẳng để lại gì, như một cây cỏ dại cũ kỹ khô héo trong làn gió xuân mới, không để lại dấu vết nào.
Cách ngôi nhà cũ đổ nát ấy không xa, khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, dường như nàng thấy một A Đào nhỏ bé của năm ấy.
Lúc ấy nàng mới năm tuổi, được đặt tên là A Đào. Hôm ấy là Tết Trung Thu, thím nàng cho nàng một miếng bánh trung thu. Nàng bẻ một mẩu nhỏ, còn lại đặt bên giường mẹ. Sau đó, nàng cầm mẩu bánh còn lại, lại bẻ ra một phần nữa, dâng lên cho trăng.
Trẻ con luôn đầy ắp trí tưởng tượng, A Đào cũng thế - một đứa trẻ cô đơn, nàng muốn làm bạn với trăng. Nàng đã có tên. Vì thế, nàng dâng bánh lên cho trăng và chào hỏi.
“Chào ngươi, trăng ơi, ta tên là A Đào.”
...
Về sau nàng nói: “Tạm biệt, trăng của ta.”
