Chương 5
Chương 5/15
19.
Dường như khi cuối thu, vạn vật đều tàn lụi, trời cũng luôn âm u, ảm đạm. Từ Cần Chính điện trở về, ta bỗng thấy trời thật lạnh, lạnh thấu vào tận xương tủy. Vì vậy, ta bế con thỏ xám nằm co ro trong góc phòng ra, ôm nó vào lòng và ngủ thiếp đi.
Con thỏ rất ngoan, tuy không quen thuộc nhưng cũng không giãy dụa, mang lại chút ấm áp cho ta. Sáng hôm sau, ta đi tìm Liễu Tích Dung, thẳng thắn hỏi nàng:
"Ngươi đã mua chuộc cung nữ trong điện của Liễu Hi Yên, ép ta phải đưa thuốc đến trước mặt Hoàng thượng khi ngài đang thịnh nộ, muốn đẩy ta vào chỗ chết, đúng không?"
Nàng còn chưa kịp gượng nụ cười dịu dàng thường trực, đã bị câu hỏi của ta làm cho sắc mặt cứng lại, rồi tỏ ra kinh ngạc nhìn ta:
"Sao ngươi biết được?"
Nàng không phủ nhận, nghĩa là đã ngầm thừa nhận. Cơn gió lạnh lẽo cuối thu lại ùa về từng đợt, ta cảm thấy trái tim mình cũng như thấm lạnh. Sự việc là do Hoàng thượng sai người điều tra rõ ràng. Thái giám lớn tuổi nói cho ta biết, rằng quả thực Hoàng thượng có chứng đau đầu kinh niên, mỗi khi phát bệnh là bạo ngược không kiểm soát được, và tất cả những ai từng đem thuốc đến đều đi mà không trở về, cung nữ bên trong thường sai tử tù đi để dính vận xui này. Không một phi tần nào muốn gần gũi Hoàng thượng, trừ phi như đôi mỹ nhân song sinh hôm ấy muốn đến ám sát ngài.
Có kẻ khinh thường ta cô thế, không có người hỗ trợ, liền mua chuộc cung nhân bên Liễu Hi Yên, chặn thuốc lại rồi đưa cho ta mang đến, đẩy ta vào chỗ chết, sau đó đổ tội cho Liễu Hi Yên. Kẻ đó chính là Liễu Tích Dung, người mà ta từng tin tưởng và cảm kích. Nàng luôn dịu dàng thân thiện, khiến ta biết ơn vì nàng đã coi ta như một người muội thật sự, như người thân vậy.
Thái giám hỏi ta muốn xử trí Liễu Tích Dung thế nào. Trong tay ta vẫn đang thêu một đôi ống tay áo giữ ấm cho nàng, nhất thời thất thần, kim đâmvào ngón tay làm ta đau nhói. Ta đã quen rồi, liền bôi máu lên hoa văn đã tốn bao ngày đêm để thêu, tự tay hủy đi những bông hoa sống động như thật ấy.
Ta không đáp lời, bởi ta muốn tự mình đi hỏi nàng.
Liễu Tích Dung chẳng một chút giãy giụa mà thừa nhận ngay, nàng cũng không còn giả bộ thân thiết nữa, lập tức trở mặt, cười mỉa mà xé rách chiếc khăn tay nàng từng nhờ ta thêu giúp:
"Đúng vậy, ta luôn lừa ngươi, ai thèm mấy thứ rác rưởi của ngươi chứ."
Khi còn rất nhỏ, mẹ ruột của Liễu Tích Dung đã bị đuổi khỏi phủ, kế mẫu đối với nàng không tốt cũng không xấu, gần như chẳng mấy quan tâm. Còn phụ thân thì chỉ những khi nàng học tập xuất sắc được tiên sinh khen ngợi hoặc khi nàng biểu diễn tài năng trong yến hội được mọi người tán thưởng, phụ thân mới hiếm hoi đoái hoài tới nàng.
Vì vậy, từ nhỏ nàng đã dốc sức học cầm kỳ thi họa, việc nào cũng dẫn đầu. Nhưng sau đó nàng nhận ra, hóa ra tiểu muội dưỡng bệnh nơi trang viên, chẳng cần học hành cũng được phụ thân yêu thương, chăm sóc đặc biệt.
Khi tiểu muội trở về Liễu phủ ở lâu, nàng ta rất ghét Liễu Tích Dung, luôn bắt nạt nàng, mà phụ thân dù biết cũng chỉ yêu cầu nàng nhường nhịn tiểu muội. Liễu Tích Dung cũng rất ghét Liễu Hi Yên, nhưng không bao giờ biểu lộ ra ngoài. Nàng lớn lên trong khuôn viên rộng lớn, không có mẹ ruột ở bên cạnh, hoàn toàn phải tự dựa vào bản thân, vì vậy sớm đã học được cách giả tạo, luôn tỏ ra dịu dàng, đoan trang, không hề tỏ vẻ thù địch trước mặt người ngoài.
Nàng ta đã muốn hại Liễu Hi Yên từ lâu, và lần nhập cung này là cơ hội của nàng. Rời khỏi tầm mắt của cha và kế mẫu, nàng có rất nhiều cách để đặt bẫy cho Liễu Hi Yên. Còn ta, trong mắt nàng, chỉ là một công cụ thuận tiện trong kế hoạch hãm hại Liễu Hi Yên. Theo kế hoạch của nàng, chỉ cần nàng tỏ ra tốt với ta một chút, giả vờ tình cảm sâu đậm, sau đó đẩy ta vào chỗ chết, đổ tội cho Liễu Hi Yên. Rồi với tư cách người thân thiết của ta, nàng có thể danh chính ngôn thuận đòi công lý cho ta, yêu cầu quan lại xử lý nghiêm khắc Liễu Hi Yên, khiến cha nàng nhìn thấu bản chất ác độc của tiểu muội mà ghét bỏ.
Chỉ là nàng không ngờ ta có thể bình an vô sự bước ra từ Cần Chính điện.
Nhìn từ một góc độ nào đó, Liễu Tích Dung mới chính là người giống Liễu Thanh Thạch nhất, giả dối và đầy mưu mô. Còn Liễu Hi Yên lại giống mẫu thân ta khi còn trẻ, lớn lên trong nuông chiều, kiêu ngạo, ngu ngốc, độc ác và bướng bỉnh.
Các nữ quan trong cung muốn bắt Liễu Tích Dung lại, nhưng nàng vùng vẫy, giẫm lên những mảnh vụn của khăn tay bị xé rách, nhìn ta và cười lớn, đến rơi cả nước mắt.
"Này Liễu Thiêm, ngươi chỉ là một quân cờ mà thôi, chẳng ai để ý ngươi hay mấy thứ rác rưởi của ngươi, từ đầu đến cuối ngươi chỉ là một kẻ đáng thương không ai cần!"
Sau khi nàng bị giải đi, ta lặng lẽ đi tới, nhặt lại chiếc khăn tay bị giẫm bẩn và rách nát, rồi chôn nó dưới gốc một cái cây không tên trong sân. Sau đó, ta bị thúc giục ngồi lên xe ngựa trở về nhà thăm cha mẹ.
Mỗi năm cung đình đều cho phép các phi tần và cung nhân về nhà trước Tết để thăm người thân. Ta và Liễu Hi Yên ngồi cùng xe trở về, nàng chẳng ưa gì ta, mặt mày cau có suốt đường, nhìn ra ngoài cửa sổ. Đến nơi, sắc mặt nàng bất giác lộ vẻ vui mừng, vội vàng xuống xe, chạy về phía Liễu phu nhân, như chú chim non nép vào mẹ nó, nũng nịu làm nũng.
Còn Liễu phu nhân và Liễu Thanh Thạch thì tràn ngập ánh mắt yêu thương, cười bảo nàng mãi không chịu lớn.
Ta đứng giữa luồng gió lạnh bên ngoài mà đợi rất lâu, cuối cùng khi Liễu Thanh Thạch và phu nhân trò chuyện xong, ông ta mới nhớ đến sự hiện diện của ta. Ông quay đầu nhìn ta, nhíu mày nói:
"Liễu Thiêm, sao còn chưa lại đây chào mẹ con?" Ở đây, ông ta chỉ Liễu phu nhân, và theo danh phận, ta chỉ có thể gọi bà ấy là mẹ.
Ta bước lên hành lễ với Liễu phu nhân. Bà đáp lại với thái độ không quá nồng hậu, cởi chiếc vòng tay vàng khắc chữ “bách phúc” trao cho ta. Đó là nghi thức thường thấy khi trưởng bối tặng quà cho tiểu bối trong các gia tộc lớn.
Liễu Hi Yên theo Liễu phu nhân vào viện của bà, còn Liễu Thanh Thạch đưa ta đến thư phòng, hỏi chi tiết về lần ta đến Cần Chính điện.
Ông ta chẳng mảy may quan tâm đến Liễu Tích Dung và Liễu Hi Yên đã đóng vai trò gì, ông chỉ để ý đến việc vì sao Bạo quân không giết ta.
Ta trả lời ứng phó qua loa, Liễu Thanh Thạch đi qua đi lại trong thư phòng một hồi, rồi đột nhiên quay lại đứng trước mặt, quan sát dung mạo ta một cách tỉ mỉ, cuối cùng kết luận:
"Nữ nhi của ta, con đẹp đến vậy, có lẽ Hoàng thượng thật sự đã để ý đến con rồi."
Ông ta đưa ra vài gói độc dược, yêu cầu ta phải tìm cách quyến rũ và tiếp cận Bạo quân, rồi bỏ độc vào thức ăn của hắn, "Độc này không màu không mùi, vào miệng là mất mạng ngay lập tức."
"Thiên hạ khổ vì Bạo quân đã lâu, khắp triều trong ngoài đều ca ngợi đức hạnh của phụ thân. Nếu ngôi vị Hoàng đế thuộc về phụ thân, thì với con và phụ thân, với bách tính thiên hạ, đều là điều tốt đẹp. Nếu con có thể giết được hắn, khi phụ thân thành đại nghiệp, con sẽ là công chúa cao quý nhất, mẹ con sẽ là Hoàng hậu được người người quỳ bái, vinh hoa phú quý một đời."
Nhìn ta sững sờ, ông ta đưa tay định chạm vào đầu ta, như cử chỉ bình thường của một người cha với nữ nhi của mình, nhưng đến trước mặt chúng ta thì lại gượng gạo, và ta cũng theo bản năng lùi lại tránh né.
Ông ta đành xấu hổ bỏ tay xuống: "Mẫu thân của con đã lâu không gặp con, con nên đi thăm bà ấy."
Ông ta lấy vinh hoa phú quý để dụ dỗ, lấy tính mạng mẫu thân để uy hiếp. Ông lớn tiếng phô bày tham vọng trước mặt ta, vì nắm rõ điểm yếu của ta nên chẳng hề sợ ta tiết lộ.
Ta nhận lấy mấy gói độc dược, ngoan ngoãn rời khỏi thư phòng, đi theo đám gia nhân dẫn đường đến viện của mẫu thân. Đến chỗ rậm rạp cây cỏ giữa đường, ta lặng lẽ chui vào đó, theo đúng lộ trình đã nhớ kỹ để quay lại thư phòng của Liễu Thanh Thạch từ lối cửa sổ phía sau.
Ta đứng bên cửa sổ, trông thấy cung nữ thân cận của ta đang báo cáo cho Liễu Thanh Thạch về tình hình của ta trong cung. Liễu Thanh Thạch cảm thán:
"Ban đầu ta còn tưởng con bé là quân cờ vô dụng, suýt nữa thì giết chết nó, may mà không thành công. Hai lần rồi, nó đều thoát chết trong tay Hoàng thượng. Với Hoàng thượng, Liễu Thiêm chắc chắn không phải tầm thường."
Đồng tử ta không tự chủ được mà giãn rộng ra, dường như đã hiểu ra điều gì. Hóa ra hôm ấy, chính là cung nữ này đã đẩy ta ngã ra trước mặt Hoàng thượng, cũng là do Liễu Thanh Thạch an bài. Ông ta muốn ta vừa vào cung đã phải mất mạng vì xúc phạm đến Hoàng thượng, để không ai phát hiện ra chuyện ông ta lấy ta thay thế cho Liễu Hi Yên.
Người phụ thân ruột thịt của ta, từ lần đầu tiên gặp mặt ở Lạc Thành, đã chẳng hề có ý định để ta sống.
Và bây giờ, ông ta vẫn đang bày mưu tính kế, đẩy ta vào chỗ chết để hoàn thành tham vọng của mình.
Không thể diễn tả nổi cảm giác trong lòng lúc ấy, ta lơ mơ bước đi, tiện tay ngắt hai cành mai đang nở rộ, rồi gặp lại thị nữ dẫn đường đi tìm ta.
Ta vờ như vui mừng, nói: "Ta ngửi thấy mùi hoa mai thơm ngát trên đường, muốn hái một vài nhành tặng mẫu thân, không ngờ lại lạc đường. May mà ngươi đã tìm thấy ta."
Trong phủ to lớn với những hành lang quanh co và lối đi phức tạp, việc lạc đường rất bình thường, huống chi thị nữ có thể đã được Liễu Thanh Thạch dặn dò không muốn ta nhớ đường đến thư phòng, nên cố ý dẫn ta đi lòng vòng. Nàng ấy rõ ràng tin lời ta, hết nghi ngờ, tiếp tục đưa ta đến viện của mẫu thân.
Lâu rồi không gặp, mẫu thân có vẻ đã không còn điên dại nhiều nữa. Bà còn tự tay nấu chè hạt sen bách hợp đón tiếp ta, học theo dáng vẻ của các mẫu thân bình thường, hỏi han tình hình của ta. Sau khi nghe hết những chuyện ta kể, không khí giữa hai chúng ta lại trở nên ngại ngùng, không ai nói gì.
Một lúc sau, bà nghiêm nghị lại, cuối cùng nói ra điều bà quan tâm nhất: "Liễu Thiêm, con ở trong cung có được sủng ái không?"
Tay ta đang cầm thìa chè bỗng khựng lại, rồi đáp: "Trong cung không ai được sủng ái."
Mẫu thân ngồi sát bên cạnh, bắt ta phải nhìn vào mắt bà, lại hỏi: "Vậy Liễu Thanh Thạch, con đã gặp chưa?"
Ta không biết bà muốn nói điều gì, đành chần chừ trả lời: "Gặp rồi."
Bà bỗng kích động, ánh mắt lộ rõ vẻ tỉnh táo lẫn điên cuồng đầy hận thù: "Nhớ kỹ, hắn không phải cha con, hắn là kẻ thù của con và ta."
"Liễu Thiêm, con là con ta, ta hiểu con. Con là đứa trẻ thông minh, lại thừa hưởng dung mạo của ta và Liễu Thanh Thạch. Vẻ đẹp và trí tuệ đều là những vũ khí không thấy được lưỡi kiếm. Giờ con có cơ hội dùng chúng rồi. Hãy tiếp cận Hoàng thượng, hãy tranh thủ sủng ái, tìm cách diệt cả gia tộc Liễu Thanh Thạch."
Nói rồi bà lại đổi ý, lẩm bẩm tự nói với chính mình, "Không được, không được, cách này quá chậm, quá chậm."
Dường như nghĩ ra điều gì, ánh mắt bà bừng sáng, bà nắm chặt cánh tay ta, không giấu nổi hận ý mà bảo, "Phải rồi, chi bằng tìm cơ hội, một nhát kiếm đâm chết hắn. Liễu Thiêm, chỉ cần hắn chết, mẫu thân của con cũng sẽ được giải thoát."
Bà tính toán làm thế nào để ta giết chết Liễu Thanh Thạch báo thù cho bà, mà không hề nghĩ đến làm thế nào để ta có thể toàn mạng thoát thân. Cũng giống như cách Liễu Thanh Thạch bắt ta bỏ độc vào đồ ăn của Hoàng thượng, bà chưa từng nghĩ đến sự an nguy của ta.
Một lần, cũng chẳng nghĩ đến.
Tim ta bỗng chốc nặng trĩu, một cảm giác khó tả dâng lên và dần trở nên rõ ràng hơn.
Có lẽ ta đã im lặng quá lâu nên mẫu thân nhìn về phía ta, trong mắt bà, ta đang cúi đầu với vẻ vô hồn, tay cầm thìa khuấy nhẹ bát chè, chiếc thìa chạm vào thành bát phát ra âm thanh lanh lảnh, nhưng ta không hề động đến dù chỉ một miếng. Bà mất dần kiên nhẫn, vẻ giả tạo của một người mẹ cũng đã biến mất, ánh mắt lạnh lùng nhìn ta, ép hỏi:
"Liễu Thiêm, con có định đi báo thù thay mẫu thân không?"
Ta hé môi, nhưng lại không thể phát ra âm thanh nào. Sau một thoáng im lặng, ta không trả lời là đồng ý hay không, chỉ nhẹ nhàng đẩy bát chè hạt sen quay lại trước mặt bà, giọng nhỏ nhẹ:
"Mẫu thân, người còn nhớ không? Ta ăn hạt sen sẽ chết đấy."
Ta dị ứng với hạt sen, khi còn nhỏ đã từng vì ăn chúng mà suýt mất nửa cái mạng. Năm xưa, khi mẫu thân không cho ta ăn cơm, ta đói đến cùng cực, đã từng lội nước giữa mùa đông để hái những đài sen còn sót lại mà người ta bỏ đi ngoài hồ. Lạnh buốt cắt da, ta vất vả gom được một nắm hạt sen khô khốc, từng hạt một nhai kỹ nuốt xuống. Đêm hôm đó, bụng ta đau quặn đến mức lăn lộn khắp đất, khắp người nổi đầy mẩn đỏ.
Mẫu thân thấy ta có dấu hiệu như mắc bệnh truyền nhiễm liền đuổi ta ra ngoài. Ta nằm co ro trong đống rơm, yếu ớt chờ chết, may sao thím ta mang đồ đến đã thấy, lập tức cõng ta xuống núi tìm thầy lang. Lúc ấy ta mới biết mình ăn phải thứ dị ứng, nếu ăn thêm vài hạt nữa e rằng đã mất mạng.
Kể từ đó, ta không bao giờ đụng vào hạt sen nữa, nhưng mỗi mùa hè, ta vẫn làm công ở hồ sen để đổi lấy những đài sen hỏng về nấu chè, vì mẫu thân thích món chè hạt sen ngọt ngào ấy.
Bà bảo bà hiểu rõ ta. Nhưng ta chỉ thấy điều đó vừa buồn cười vừa chua xót.
Nếu bà thật sự hiểu ta, bà sẽ không nấu món chè bà thích nhất để giả vờ chào đón ta.
Giữa vẻ mặt cứng đờ của bà, ta bước ra ngoài, mở cửa phòng, hít thật sâu bầu không khí trong lành, nhưng cảm giác nghẹn ngào trong lòng mãi không thể tan đi.
Đêm hôm đó là buổi gia yến, Liễu phu nhân sai người đến gọi ta cùng dùng bữa. Danh nghĩa, ta là dưỡng nữ của Liễu Thanh Thạch, ghi vào gia phả dưới tên Liễu phu nhân, cũng là nữ nhi của bà ấy.
Liễu Tích Dung không có mặt, Liễu Hi Yên thì ngồi cạnh cha mẹ nàng. Vì là gia yến nên không quá câu nệ lễ tiết, Liễu Thanh Thạch và Liễu phu nhân liên tục gắp món ăn yêu thích cho nàng. Dần dần, ta nhận ra rằng cả bàn tiệc đầy ắp những món mà nàng thích nhất.
Còn ta, ngồi một mình ở góc cuối bàn, cảm giác ấy lại ùa về – một cảm giác lạc lõng quen thuộc.
Giữa bữa ăn, Liễu Hi Yên đột nhiên bực bội, Liễu Thanh Thạch hỏi nàng có chuyện gì, nàng nhìn về phía ta, ý tứ rõ ràng: "Chúng ta là gia đình vui vẻ đoàn tụ, ta không thích kẻ ngoài khó coi phá hỏng không khí."
Thế là giữa bữa, Liễu Thanh Thạch bảo ta ra ngoài, dặn nhà bếp chuẩn bị bữa tối riêng cho ta.
Ta không đến nhà bếp, mà rời phủ, lang thang trên phố mà không có mục đích.
Chập tối, chợ phố đông vui, đèn lồng treo cao trên mái hiên, dòng người tấp nập, tiếng rao bán hàng không ngớt, khói lửa nhân gian bừng sáng khắp nơi.
Ta thấy một đứa trẻ được cha mẹ bồng bế, đòi mua một cây kẹo hồ lô, cha mẹ nó vừa bất đắc dĩ lại cưng chiều mà chọn cho đứa bé cây to nhất; một bà lão đang trách mắng cháu vì nó trèo cây bắt chim rồi ngã bẩn đầy người, mắng xong lại cẩn thận đặt chú chim non lên bếp lò sưởi cho khỏi lạnh; những nữ tử sắp xuất giá theo mẹ và các tỷ muội chọn trang sức, sắm sửa của hồi môn; một bà cụ dìu người mẹ già còn lớn tuổi hơn, cùng bà con hàng xóm ngồi chuyện trò...
Ta như một hồn ma cô độc, lang thang giữa sự ấm áp ấy.
Dần dần, đêm về khuya, hàng quán hai bên đường lần lượt đóng cửa, ánh đèn mờ dần, người qua lại thưa thớt. Ta cứ đi mãi cho đến khi bị chặn lại.
Ngước lên, ta mới nhận ra mình đã đi đến một cổng nhỏ của Hoàng cung, phủ Tể tướng thực ra rất gần Hoàng cung.
Vệ binh chặn ta lại, ta ngẩn người một lúc rồi hỏi họ: "Phi tần ra ngoài thăm gia đình có thể quay về cung sớm hơn không?"
Một câu hỏi làm họ sửng sốt, từ trước tới nay, phi tần về thăm nhà luôn quyến luyến không nỡ rời đi, chẳng ai lại muốn sớm quay về như ta.
Một người đi xin chỉ thị, được trả lời rồi quay lại nói rằng có thể vào.
Ta quay lại nhìn cung nữ thân cận đang lặng lẽ theo sau: "Ngươi hãy về báo với phụ thân, ta sẽ vào cung trước."
Rồi để nàng ấy còn ngỡ ngàng đứng đấy, ta bước vào cửa cung, dần dần đi xa.
Tuyết bắt đầu rơi lất phất, đông đã sang rồi.
Dường như khi thu tàn vạn vật héo úa, trời đất cũng trở nên ảm đạm, xám xịt.
Khi trở về cung điện của mình, ta vẫn chẳng ngủ yên giấc, chân tay lạnh buốt, toàn thân như chìm trong băng giá. Năm nay, mùa đông đến sớm, than sưởi vẫn chưa kịp phân phát đến các cung, cả phòng lạnh lẽo không chút hơi ấm.
Nửa đêm, ta lại quen thuộc mà bò dậy, ôm lấy chú thỏ xám lông xù, cuộn mình vào chăn lạnh ngắt, cố gắng rúc vào để sưởi ấm.
Mẫu thân chưa từng hiểu ta. Trước đây khi còn ở trong núi, giữa mùa đông lạnh giá nhất, ta có thể mặc áo mỏng lội xuống sông bắt cá, vào rừng tuyết săn gà rừng, một mình trèo lên núi nguy hiểm để chặt củi, học theo người lớn mà chuẩn bị hàng tết. Khi tết đến, ta lại không nỡ ăn thịt nhiều, cuối cùng toàn bộ số thịt vất vả gom góp đều nhường cho mẫu thân, cả chút củi khó khăn mới mang về cũng đều để bà sưởi ấm.
Bà đã quen với việc đó nên luôn cho rằng ta vốn không sợ lạnh, và bà cũng chưa bao giờ giống những bà mẹ khác, may cho ta một bộ áo mùa đông.
Bà không biết rằng, thật ra ta rất sợ lạnh, còn sợ hơn người bình thường. Vì vậy, ngay cả khi ngủ, ta cũng phải ôm lấy chú thỏ để tìm chút hơi ấm mà ngủ một giấc yên bình cho đến sáng. Cảm giác đau âm ỉ, nghẹn ngào trong lòng cũng có thể tạm thời lắng xuống.
Liễu Tích Dung đã nói không sai, trong mắt bọn họ, ta chỉ là một con cờ, chẳng ai quan tâm đến ta, từ đầu đến cuối, ta chỉ là một kẻ đáng thương, chẳng ai muốn.
Người tỷ muội ta từng nghĩ là đối xử tốt với mình, hóa ra từ đầu đến cuối đều mưu tính lợi dụng ta; phụ thân ruột của ta thì hết lần này đến lần khác đẩy ta vào chỗ chết để đạt được mục đích của mình; ngay cả mẫu thân, người mà ta đã cùng sống nương tựa, trong mắt bà cũng chỉ có thù hận, và bà cũng ép ta dùng mạng sống của mình đổi lấy mạng của kẻ thù.
Họ đều lợi dụng ta, rồi lại khinh thường ta.
Nhưng, dù ta là kẻ không ai cần, chú thỏ của ta lại là một sinh vật có người mong mỏi.
Hằng ngày ta đi xin những lá rau thừa từ bếp, đi đến những nơi hoang vắng trong cung để hái cỏ, nỗ lực tìm đồ ăn cho nó, dựng cho nó một chiếc ổ nhỏ sạch sẽ và ấm áp, thậm chí còn buộc cho đôi tai khiếm khuyết của nó một chiếc nơ xinh đẹp.
Ta phát hiện ra ta đã thay đổi, ta thà ngồi ngắm thỏ ăn cỏ suốt cả ngày còn hơn ngồi cạnh mẫu thân.
Khi tất cả phi tần khác trở về thăm nhà, ta vẫn ở lại trong cung tìm cỏ tươi cho thỏ, cho đến một ngày ta trở về, thấy nó nằm đầy máu trên đất, đã cứng đờ rồi.
Chiếc nơ xinh đẹp cũng ngấm đẫm trong máu.
Một số phi tần đã quay lại cung sau khi về thăm nhà, không biết là chó của ai đã cắn chết thỏ của ta rồi tha nó đi xa.
Đêm hôm đó tuyết rơi rất dày, ta nhặt lấy chú thỏ tàn tạ và cứng ngắc, từng bước chậm chạp lảo đảo giẫm trên tuyết, ngã dúi vào lớp tuyết mềm, chú thỏ chết trên tay lăn xuống dốc, nằm lại dưới gốc cây mai sáp.
Hoa nở rộ, hương thơm thoang thoảng khắp nơi.
Nhưng ta vẫn thấy thật đau đớn.
Hốc mắt nóng lên, chóp mũi cay cay, môi ta mím chặt, không cho nước mắt trào ra. Cảm giác nghẹn ngào đã kiềm chế bấy lâu lại cuộn lên dữ dội, cắn chặt trái tim ta.
"Ai đã khiến nàng ấm ức thế này?"
Một giọng nam trầm thấp, dịu dàng vang lên giữa màn tuyết.
Ta ngước lên, thấy Bạo quân khoác áo gấm, áo lông chồn, đứng dưới gốc cây mai nhìn ta. Sau lưng hắn là thái giám cầm đèn, hắn đứng dưới chiếc ô, tuyết rơi từng bông lớn trôi qua trước mặt hắn, đan xen với ánh sáng ấm áp từ chiếc đèn vàng cam.
Ta ngơ ngác lau mặt, chỉ cảm thấy tay lạnh buốt, đầy sương tuyết. Không hề có nước mắt.
Rõ ràng là ta không khóc, sao hắn lại nói rằng ta ấm ức? Ta nhìn hắn đờ đẫn. Có lẽ lúc này ta nên đứng lên hành lễ với Hoàng đế, hoặc lên tiếng trả lời câu hỏi của hắn, nhưng ta chỉ đứng sững trong tuyết, cuối cùng không nói gì, cũng không làm gì, như thể cả linh hồn bị tan biến giữa màn tuyết trắng xóa.
Cũng may, Bạo quân trông chẳng hề bận tâm, bàn tay dài mảnh khảnh, nhưng lại đầy vết thương, nhấc chú thỏ cứng ngắc dưới chân lên, gọi thái giám đi lấy cái xẻng. Thái giám trở lại, thì thầm vài lời bên tai hắn, Bạo quân lập tức hiểu chuyện đã xảy ra.
"Chỉ là một con thỏ thôi mà, chết rồi thì chôn xuống là được."
Hắn kéo ta đứng dậy khỏi tuyết, chọn một chỗ tốt dưới gốc cây mai, ngón tay lạnh như băng khẽ chỉ xuống mặt đất, "Chôn ở đây nhé."
Chỉ là một con thỏ thôi sao?
Ta càng muốn khóc, tim thắt lại đau nhói.
Chỉ là một con thỏ thôi ư?
Không phải, đó không chỉ là một con thỏ, đó còn là nơi ta gửi gắm tâm tư.
Trước kia, ta không cần nơi gửi gắm. Ta và mẫu thân nương tựa trong núi rừng, cuộc sống đơn giản đến mức cực hạn, từ nhỏ đến lớn người duy nhất mà ta tiếp xúc chỉ có mẫu thân.
Trước kia ta rất dễ thỏa mãn, dù mẫu thân thường đánh mắng ta, lúc nào cũng nhìn ta bằng ánh mắt lạnh lùng, nhưng khi bà vui vẻ, thắt cho ta một b.í.m tóc hay kể một câu chuyện vốn rất nhạt nhẽo, ta cũng thấy vui sướng vô cùng, cảm thấy đó là một vinh hạnh to lớn.
Nhưng giờ đây, bà làm những điều tương tự, ta lại chẳng còn thấy niềm vui.
Như một người sống mãi trong đêm đen, một ngày đột nhiên bước vào thế giới bình thường, nhìn thấy ánh sáng, mới biết màn đêm đen tối nhường nào.
Khi ta bị đưa ra khỏi rừng sâu, ném vào kinh thành phồn hoa náo nhiệt, gặp biết bao người và sự việc, chứng kiến cuộc sống khác biệt, nhìn ngó hạnh phúc của những đứa trẻ khác như chuột trong cống ngầm.
Khi ta nuôi một chú thỏ, dựng cho nó một cái ổ sạch sẽ ấm áp, buộc lên đôi tai thiếu khuyết của nó một chiếc nơ…
Ta mới nhận ra đứa bé từng hân hoan chỉ vì được buộc b.í.m tóc kia thật đáng thương.
Ý thức được rằng mình không được yêu thương, cũng chẳng dám yêu ai.
Đứa trẻ từng dành hết lòng yêu mến cho mẫu thân, sẵn sàng vì tìm kiếm bà mà băng qua núi non, dốc hết mạng mình ra để đổi lại chút tình cảm, giờ đây lại chẳng dám ở bên bà.
Trao đi tình yêu chân thành cho người khinh ghét mình, chỉ đổi lấy những tổn thương nối tiếp tổn thương.
Chú thỏ xấu xí xám xịt đó không chỉ giúp ta tìm được hơi ấm trong đêm đông giá lạnh, mà còn là một nơi nương tựa.
Nơi mà ta có thể tự do trao đi tình yêu của mình.
Liễu Tích Dung tính toán ta, Liễu Hi Yên ruồng rẫy ta, Liễu Thanh Thạch lợi dụng ta, ngay cả mẫu thân cũng gây tổn thương cho ta.
Chết đi không chỉ là một con thỏ, mà là mọi ảo ảnh, mọi chút hơi ấm hư ảo trong cuộc đời ta, tất cả đã vỡ tan.
