Chương 39
Chương 39/69
Tần Vô Song chăm chú nhìn hắn, vốn định giữ vẻ mặt lạnh lùng, tiếp tục phớt lờ hắn thêm một hồi.
Nào ngờ, khi ánh mắt nàng chạm phải ánh mắt tủi thân đầy đáng thương của Mục Phỉ, nàng không nén được mà bật cười.
Vẻ mặt đó, quả thật không giữ nổi vẻ lạnh lùng nữa.
Mục Phỉ thấy vậy cũng cười theo.
Hai người liền nhìn nhau mà cười.
Khi xe ngựa dừng lại, Mục Phỉ đứng dậy trước, ân cần đỡ nàng xuống. Bên dưới đã có một đám hạ nhân quây quanh, chuẩn bị sẵn ghế đặt chân, vén rèm, đón họ xuống xe ngựa.
Vừa bước qua cửa lớn, liền thấy Tình Phương, nha hoàn thân cận của lão thái quân bước ra đón. Nhìn thấy Tần Vô Song, Tình Phương lập tức ôm ngực, thở phào nhẹ nhõm: “Cảm tạ trời đất, cuối cùng hai người cũng về! Lão thái quân lo đến sắp phát ốm rồi, mau vào đi, người đang chờ hai người đến để yên tâm đấy.”
Hai người lại bị một đám nha hoàn và bà vú vây quanh, đưa đến phòng của lão thái quân.
Lão thái quân đang ngồi trong phòng, không ngừng thở dài. Nghe thấy tiếng bước chân, bà vội hỏi bà vú bên cạnh: “Là Phỉ Nhi chúng nó về rồi à?”
Đúng lúc đó, Tình Phương cười, vén rèm lên, Tần Vô Song và Mục Phỉ cùng bước vào. Tần Vô Song vừa định hành lễ, lão thái quân đã vội đứng dậy, nắm lấy tay nàng, hỏi: “Đứa nhỏ ngoan, cuối cùng con cũng về rồi. Tối qua đi đâu làm ta lo lắng đến mức cả đêm không ngủ được?”
Mục Phỉ nhìn trộm Tần Vô Song với vẻ chột dạ.
Tần Vô Song mỉm cười, đáp: “Hôm qua sau khi từ biệt thiếu gia ở ngoài thành, con có đi dạo quanh đó một chút. Chợt nhớ đã lâu rồi chưa về nhà thăm phụ mẫu, con liền đến thăm họ, trò chuyện và dùng bữa cùng họ. Ban đầu định quay lại, nhưng mẫu thân không nỡ để con đi, nên con ở lại một đêm. Là con sơ suất, quên sai người về báo một tiếng, khiến tổ mẫu lo lắng, thật sự là lỗi của con.”
Nghe vậy, Mục Phỉ xấu hổ cúi đầu, không nói một lời.
Lão thái quân vốn là người tinh tường, nghe lời này liền đoán được Tần Vô Song đang che giấu thay cho Mục Phỉ. Thấy vẻ hối lỗi của hắn, trong lòng bà rất an ủi. Hai đứa trẻ này, cuối cùng cũng có thể bỏ qua hiềm khích, sống hòa thuận rồi.
Buổi tối, lão thái quân giữ hai người lại ăn cơm, lại trò chuyện thân tình suốt cả buổi, sau đó mới để họ trở về.
Trên đường quay về Tử Trúc Viện, Mục Phỉ khẽ nói với Tần Vô Song: “Cảm ơn cô.”
Tần Vô Song hỏi: “Cảm ơn ta chuyện gì?”
“Cảm ơn cô đã che giấu chuyện ta bỏ cô lại ở Ngọc Chẩm Quan trước mặt tổ mẫu.”
Tần Vô Song cười nhạt, bĩu môi: “Biết cảm kích là tốt rồi.”
Mục Phỉ giơ tay thề thốt: “Cô yên tâm, ta đảm bảo sau này sẽ không trêu đùa cô nữa.”
Tần Vô Song liếc hắn, mắt khẽ nheo lại:
“Huynh nói đó, ta sẽ nhớ kỹ.”
Mục Phỉ nhìn gương mặt Tần Vô Song, chợt nhớ lại những âm thanh lạ nghe thấy ngoài cổng thành hôm nay. Hắn bỗng nhiên căng thẳng, bật thốt: “Tần Vô Song!”
Tần Vô Song ngạc nhiên, nghiêng đầu nhìn hắn: “Sao vậy?”
Mục Phỉ mím môi, ngực như bị đè nén bởi cảm xúc khó diễn tả, muốn nói gì đó, nhưng lời ra đến miệng lại thành: “Nhũ danh của cô có phải là Ân Ân không?”
Tần Vô Song sững người, ngơ ngác nhìn hắn, mãi lâu sau mới hỏi: “Huynh… huynh làm sao biết được?”
Mục Phỉ gãi đầu, cười gượng: “Hôm nay ta nghe phụ mẫu cô gọi vậy.” Thực ra hắn đã điều tra từ lâu.
Nghe vậy, Tần Vô Song khẽ thở phào, không rõ là thất vọng hay bất đắc dĩ nhiều hơn.
Mục Phỉ ngập ngừng hỏi: “Sau này, ta có thể gọi cô là Ân Ân không?”
Tần Vô Song dứt khoát từ chối: “Không được.”
Mục Phỉ ngỡ ngàng: “Tại sao?”
Gương mặt Tần Vô Song đột nhiên trầm xuống: “Hiện giờ huynh còn chưa đủ tư cách.”
Mục Phỉ truy hỏi: “Thế nào là không đủ tư cách?”
Tần Vô Song nhìn hắn một lúc, ánh mắt chợt tối lại: “Người thân. Nhũ danh của ta chỉ có người thân mới được gọi.” Dứt lời, nàng xoay người rời đi.
Mục Phỉ đứng sững phía sau, ngẩn ngơ không hiểu sao sắc mặt Tần Vô Song thay đổi còn nhanh hơn lật sách.
Vài ngày sau, kỳ hạn ba tháng của Thạch lão phu tử cuối cùng cũng kết thúc. Lão thái quân đứng ra chủ trì, chuẩn bị một yến tiệc linh đình để tiễn biệt và cảm tạ lão phu tử.
Thạch phu tử vừa rời đi, Mục Phỉ vui như chim sổ lồng, hớn hở đến mức muốn nhảy múa. Việc đầu tiên hắn làm chính là chạy tới phòng lão thái quân, xin phép ra ngoài tụ họp với bằng hữu.
Lão thái quân biết nếu tiếp tục giữ chân hắn e rằng sẽ sinh chuyện, đành gật đầu đồng ý, dặn dò từ nay không cần ngăn cản hắn ra ngoài nữa.
Được tự do, Mục Phỉ ngay lập tức dẫn theo mấy hạ nhân, hệt như cơn gió cuốn rời khỏi phủ đi chơi. Tuy nhiên, do không có tiền trong tay, hắn đành dựa vào sự giúp đỡ âm thầm của Nghê thị dúi cho hắn một ít bạc. Thêm vào đó, bằng hữu thân thiết như Đoạn Dật Hiên và Tạ Mậu Khuynh biết hoàn cảnh của hắn nên mỗi lần tụ họp đều chủ động chi trả. Nhờ vậy, Mục Phỉ chẳng hề bận tâm, tiếp tục vui chơi thoải mái, rất nhanh đã quay lại dáng vẻ lười nhác như trước đây.
Trong khi đó, Tần Vô Song lại bận rộn với kế hoạch mở một vườn mẫu đơn.
Nàng dành cả ngày lặn lội khắp phố đường, tìm người trung gian để dò hỏi xem trong phạm vi ba mươi dặm quanh thành có mảnh đất nào gần nguồn nước cần cho thuê hay không. Đồng thời, nàng cũng tự mình cưỡi ngựa ra ngoại thành khảo sát các địa điểm thích hợp.
Việc mở một vườn mẫu đơn đòi hỏi địa điểm phải đáp ứng ba điều kiện:
Thứ nhất, đất phải gần thành để dân chúng trong thành có thể dễ dàng đến thăm bằng xe ngựa hoặc ngựa cưỡi.
Thứ hai, nơi đó phải gần nguồn nước để tiện tưới tiêu và đảm bảo đất đai đủ ẩm.
Thứ ba, đất phải là đất nông nghiệp. Trong bối cảnh kinh tế thời Kỳ Tống hưng thịnh, người dân phần lớn bỏ nông theo thương nghiệp, khiến triều đình đánh thuế thương cao nhưng thuế nông lại thấp. Do đó, các sản phẩm từ đất nông nghiệp chỉ bị đánh thuế như nông sản, lợi ích lớn hơn nhiều.
Một ngày nọ, người trung gian dẫn Tần Vô Song ra ngoại thành để xem đất. Họ rời khỏi cổng Vệ Châu, men theo dòng Ngũ Trượng Thủy đi về phía Tây Bắc. Khi ra cách thành khoảng mười lăm dặm, Tần Vô Song bất ngờ nhìn thấy một mảnh đất hoang.
Đó là một vùng đất gồ ghề với địa hình cao thấp xen kẽ, kéo dài từ đồi núi đến các vùng trũng, cách bờ sông không đầy một dặm.
Tần Vô Song liền hỏi người trung gian: “Mảnh đất này có chủ không?”
Người trung gian nhìn qua địa hình rồi suy nghĩ một lúc, đáp: “Cái này taphải về dò hỏi mới biết. Nhưng mảnh đất này trông như đất hoang, không chừng chẳng có chủ đâu.”
“Cớ sao lại nói vậy?”
Người trung gian giải thích: “Cô nhìn địa hình mà xem, cao thấp không đều, nước không giữ được, trâu bò không cày nổi. Đất này không thể canh tác quy mô lớn, chẳng nông dân nào muốn cày cấy ở đây. Đây chính là loại đất xấu trong canh tác nông nghiệp.”
Tần Vô Song chạm tay lên cằm, trầm ngâm một hồi rồi hỏi tiếp:
“Nếu mảnh đất này có chủ, giá cả liệu có thấp hơn giá thị trường không?”
Người trung gian gật đầu: “Tất nhiên là thế. Đất kiểu này giữ trong tay cũng chỉ thêm gánh nặng, không trồng trọt gì mà vẫn phải đóng thuế. Có người thuê được thì họ cầu còn chẳng kịp.”
Tần Vô Song vỗ tay cười, quả quyết: “Các mảnh đất khác không cần xem nữa. Ngươi giúp ta tìm hiểu về chủ nhân mảnh đất này. Ta muốn thuê nó.”
Người trung gian hỏi lại để chắc chắn: “Tiểu thư đã suy nghĩ kỹ chưa?”
“Suy nghĩ kỹ rồi, cứ làm vậy.”
Năm ngày sau, người trung gian báo lại rằng đã tìm được chủ nhân mảnh đất. Người đó đồng ý cho thuê, nhưng hiện đang ở xa Biện Đô, cần khoảng mười ngày nửa tháng nữa mới về để đàm phán giá cả và ký khế ước được.
Tần Vô Song nghe xong liền đồng ý, rồi dẫn Nhụy Chu và Bán Hạ ra mảnh đất, quan sát kỹ địa hình, đo đạc diện tích. Khi rời đi, nàng mang theo một ít đất bỏ vào bình gốm để đem về nghiên cứu.
Sau đó, nàng vừa chờ tin từ chủ đất, vừa bắt tay vào thiết kế vườn mẫu đơn, học hỏi thêm kiến thức về trồng hoa, đồng thời tính toán chi tiết các khoản chi phí cần thiết để triển khai.
Bận rộn đến nỗi nàng nhất thời chẳng kịp để tâm đến hiệu thuốc, đành giao cả cho sư phụ trông nom. May thay, hiệu thuốc giờ đây đã vận hành ổn định, chỉ cần làm theo lề lối cũ, thỉnh thoảng đến xem xét, mọi sự đều vẫn ổn.
Gần tiết Thanh Minh, trong phủ ai nấy đều xôn xao bàn tán rằng Tứ tiểu thư sẽ trở về từ Cô Tô.
Quả nhiên, chỉ hai ngày sau, Mục Đình Đình đã về đến. Cả phủ nháo nhào hẳn lên, nhất là đám nha hoàn líu ríu như lũ chim sẻ, rộn ràng không dứt.
Hôm ấy, Tần Vô Song đang ngồi trong phòng vẽ tranh. Nàng đã phác thảo xong toàn bộ khuôn viên vườn hoa, giờ đang dựa vào đặc điểm địa hình để sắp xếp vị trí trồng các loài hoa khác nhau.
Bỗng bên ngoài vang lên một tràng cười trong trẻo như chuông bạc. Tiếng bước chân rộn ràng từ cổng ngoài xuyên qua hai lớp cửa, thẳng tiến vào nội viện.
Tần Vô Song liếc mắt ra hiệu cho Nhụy Chu.
Nhụy Chu đang định ra xem người nào đến, thì tấm rèm bỗng bị vén lên. Một cánh tay trắng ngần như ngó sen hiện ra, trên cổ tay là chiếc vòng ngọc bích xanh biếc.
Ngay sau đó, một khuôn mặt tươi tắn như hoa đào, mịn màng như hoa sen, xuất hiện dưới rèm cửa.
Tần Vô Song vẫn cúi người trên bàn, tay cầm bút, ngẩng đầu lên nhìn nữ tử kia, nhất thời chưa kịp phản ứng.
Nữ tử kia buông rèm, nhanh nhẹn bước vào, ngọt ngào gọi một tiếng: “Tẩu tẩu, xin chào!”
Tần Vô Song đặt bút xuống, cẩn thận quan sát Mục Đình Đình. Nàng mặc áo váy màu vàng nhạt, gương mặt nhỏ nhắn tinh nghịch, đôi mày dài, mắt phượng rạng rỡ, môi đỏ răng trắng, thần thái phơi phới xuân ý. Nhìn kỹ, nàng có năm sáu phần giống Mục Phỉ. “Muội là… Tứ tiểu thư?”
Mục Đình Đình ngồi sát bên Tần Vô Song, cười rạng rỡ: “Gì mà tứ tiểu thư xa cách thế, tẩu cứ như tam ca, gọi muội là Đình Đình đi!”
Tần Vô Song chưa quen sự thân mật bất ngờ của nàng, đành cười gượng: “Muội… về phủ khi nào vậy?”
Mục Đình Đình nghiêng đầu, cười tít mắt: “Sáng nay muội mới về, bái kiến tổ mẫu và mẫu thân xong là đến thăm tẩu ngay đấy.”
“Muội đã gặp tam ca chưa?”
Mục Đình Đình phẩy tay, thản nhiên đáp: “Chưa nữa, muội chưa về đến nhà đã biết huynh ấy lại đang vui chơi ở bên ngoài rồi, chẳng thèm bận tâm làm gì!”
Không quan tâm đến ca ca ruột, lại tìm đến vị tẩu tẩu xa lạ là nàng đây, Tần Vô Song thoáng thấy lúng túng.
Mục Đình Đình nhìn nàng chằm chằm, ánh mắt lấp lánh, rồi chân thành khen ngợi: “Tẩu tẩu, tẩu đẹp quá đi!”
“...Cảm ơn… muội quá khen rồi.” Bị một nữ tử thẳng thắn khen ngợi, Tần Vô Song không khỏi thấy ngượng.
Tưởng nàng không tin lời mình, Mục Đình Đình vội tiếp lời, thao thao bất tuyệt: “Muội nói thật đấy! Tẩu là người đẹp nhất muội từng gặp. Ở Cô Tô, muội đã nghe đồn tam ca cưới được một người vợ xinh đẹp. Trên đường về, đám hạ nhân cũng kể rất nhiều chuyện về tẩu và Tam ca. Tổ mẫu lại hết lời khen ngợi tẩu trước mặt muội. Tẩu tẩu, muội thực sự khâm phục tẩu, tẩu không chỉ thuần phục được tam ca con ngựa hoang ấy, mà còn khiến tổ mẫu phải nể phục. Tẩu quá là lợi hại rồi!”
Tần Vô Song cố nặn ra một nụ cười: “Muội… quá lời rồi.”
Mục Đình Đình cúi đầu nhìn tấm bản vẽ trên bàn, tò mò hỏi: “Tẩu đang vẽ gì thế?”
“Bản thảo thiết kế.”
Nàng chăm chú nhìn dòng chữ phía góc phải: “Bản vẽ vườn mẫu đơn,” đôi mắt sáng lên: “Tẩu định mở một vườn mẫu đơn sao?”
“Coi như vậy, nhưng… mới chỉ là kế hoạch sơ bộ thôi.”
Mục Đình Đình reo lên: “Wow! Tẩu còn biết trồng hoa nữa à? Muội thích tẩu quá! Sau này muội có thể thường xuyên đến chơi với tẩu được không?”
Tần Vô Song gượng gạo gật đầu: “…Được, được thôi.”
Mục Đình Đình ngồi chuyện trò thêm hồi lâu, mãi đến khi người bên viện Nghê phu nhân đến gọi, nàng mới luyến tiếc rời đi.
Căn phòng yên ắng trở lại, Tần Vô Song lại ngây người một lát.
Mục Đình Đình đến như cơn gió thoảng, đi cũng như gió cuốn, khiến nàng đành gác bút, đến phòng lão thái quân thỉnh an. Nàng còn giúp lão thái quân xoa bóp đầu, khiến bà vui vẻ gọi cả Mục Phỉ và Mục Đình Đình đến cùng dùng cơm tối.
Mục Đình Đình ríu rít kể những chuyện kỳ thú nàng gặp ở Cô Tô, khiến cả nhà vui vẻ suốt bữa.
Tần Vô Song nhận được tin từ người trung gian rằng chủ nhân của mảnh đất nằm ở phía tây bắc ngoại thành đã trở về, hẹn nàng năm ngày sau gặp mặt để bàn về việc thuê đất.
Năm ngày sau, Tần Vô Song đến chỗ trung gian, người đó dẫn nàng đến điểm hẹn do bên kia chỉ định, đó là một nơi có tên Nhã Lan Cư, nằm ở góc phía bắc thành.
Người trung gian gõ cửa vài lần không thấy ai đáp, nhẹ đẩy một chút thì cánh cửa hé mở.
Hai người nhìn nhau một thoáng rồi đẩy cửa bước vào.
Vừa vào bên trong, mùi hương hoa thơm ngát xộc tới, làm người ta lâng lâng. Trước mắt là cảnh tượng đầy màu sắc, khắp nơi đều phủ kín hoa cỏ xanh tươi, rực rỡ đến mê hồn, từng đàn bướm lượn lờ, tiếng chim hót ríu rít vang vọng.
Đây nào giống một nơi ở, nhìn như chốn đào nguyên tiên cảnh vậy.
Không thấy ai, cả hai đành đi men theo con đường lát đá tiến vào trong. Hai bên đường, những giàn hoa leo phủ đầy những cánh hoa tím dịu dàng.
Nhìn từ bên ngoài, Nhã Lan Cư chẳng khác gì những căn nhà lớn thường thấy ở Biện Đô, nhưng bước vào trong, thiết kế lại hoàn toàn khác biệt. Qua cửa chính là một dòng suối uốn lượn, bên trên có chiếc cầu đá nhỏ cong cong. Đi qua cầu là đến khu vực trung tâm.
Sau cửa chính là một khoảng sân hình tròn rộng chừng ba trượng. Phía trên sân được lợp một mái kính màu xanh nước biếc, vừa khít với tường rào, khiến ánh sáng tràn ngập bên trong, tạo cảm giác khác biệt với không khí bên ngoài.
Trong sân cũng trồng đầy hoa cỏ, nhiều loại chưa từng thấy, thậm chí có cả những giống hoa vốn không thuộc mùa này cũng nở rộ.
Cả hai tiếp tục đi qua một hành lang dài, hai bên được che phủ bởi núi giả và rừng trúc, tạo nên một không gian huyền bí. Khắp nơi trồng toàn loài cây quý và hoa lạ, xanh tốt đến mức khó lòng nhìn thấu hết toàn cảnh.
Tần Vô Song không nén nổi sự kinh ngạc, thốt lên: “Chủ nhân nơi này là người trồng hoa sao?”
Người trung gian cũng ngẩn ngơ một lúc mới đáp: “Ta cũng không rõ. Chỉ gặp qua người ấy một lần, trông phong thái chẳng khác nào công tử quý tộc, không giống một người làm nghề trồng hoa.”
Đi một lúc, hai người cuối cùng cũng thấy một bóng người đang bận rộn trong vườn.
Người ấy mặc y phục trắng, đang quỳ gối trên mảnh đất mới đào xới, tay cầm cuốc nhỏ, cẩn thận bới đất.
Người trung gian vội bước tới, chắp tay cung kính: “Xin làm phiền, không biết chủ nhân của căn nhà này có ở đây không?”
Người kia thoáng khựng lại, đặt cuốc xuống rồi đứng dậy.
Đó là một nam tử dáng người cao ráo nhưng hơi gầy, mặc chiếc áo chòng dài trắng cổ tròn, chân mang đôi guốc gỗ đế cao.
Tuy trang phục của hắn rất đơn giản, nhưng thần thái lại tựa như trúc xanh, trong trẻo mà thanh tao.
Hắn không nói gì, chỉ quay người lại.
Khi Tần Vô Song nhìn thấy mặt hắn, nàng kinh ngạc thốt lên: “Là… huynh?”
