Chương 35
Chương 35/69
Mục Phỉ nghe tiếng thì ngẩng đầu lên, chỉ thấy Tần Vô Song khoác trên mình áo choàng lông cáo và đội mũ tuyết trắng, chẳng biết từ khi nào đã ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế trong phòng hắn, đang ung dung nhàn nhã nhìn hắn.
Hắn lập tức giật nảy mình, vội kéo chăn lên che ngực, lắp ba lắp bắp hỏi: “Cô, cô, cô mới sáng sớm tinh mơ đến, đến phòng ta làm gì?”
Tần Vô Song điềm nhiên đáp: “Đã sang đầu giờ mão rồi, ta đặc biệt đến đây để đốc thúc thiếu gia dậy thay y phục, đúng giờ đến lớp.”
Mục Phỉ nghe xong thì trợn trắng mắt, cáu kỉnh nói: “Gia ta còn chưa ngủ đủ, không đi!” Dứt lời liền trùm chăn nằm xuống, quay lưng về phía Tần Vô Song, tiếp tục ngủ.
Tần Vô Song thấy vậy, bèn liếc mắt ra hiệu cho An Minh đang đứng trước cửa chờ lệnh.
An Minh hiểu ý, cắn răng một cái, bước đến bên cửa sổ, mở toang cửa rồi chống lên.
Gió lạnh lập tức ùa vào hun hút, khiến An Minh run bần bật, vội cúi đầu lùi sang một bên.
Chẳng bao lâu, Mục Phỉ cáu bẳn hất tung chăn, lớn tiếng gào lên: “Khốn kiếp! Ai mở cửa sổ đấy? Muốn khiến gia lạnh chết chắc?!”
An Minh cùng An Hỉ, “phịch” một tiếng quỳ sụp xuống đất, khẩn thiết van xin: “Thiếu gia, tiểu nhân xin ngài mau mau dậy đi mà.”
Mục Phỉ nhảy phắt khỏi giường, chỉ vào đầu An Hỉ và An Minh đang quỳ dưới đất, nghiến răng nghiến lợi mắng: “Được lắm, đám các ngươi đều dám làm phản rồi, giờ gia sẽ đi mách tổ mẫu, đuổi hết các ngươi ra ngoài!”
An Minh mặt mày khổ sở nói: “Gia bớt giận, lão thái quân đã nói rồi, đám hạ nhân trong Tử Trúc viện giờ đều do Tần tiểu thư quản lý, tiểu nhân không dám cãi lệnh.”
Mục Phỉ lập tức quay đầu, ánh mắt sắc lạnh nhìn chằm chằm Tần Vô Song, nghiến răng gọi: “Tần Vô Song!”
Tần Vô Song chậm rãi nói: “Ta cho huynh thời gian một chén trà, nếu đến lúc đó vẫn chưa ăn mặc chỉnh tề, thì ta sẽ đích thân thay y phục cho huynh.”
Nói xong, nàng ung dung đứng dậy rời đi.
Mục Phỉ bất giác rùng mình một cái.
Nghĩ tới việc Tần Vô Song đích thân thay đồ cho hắn, không khỏi lại rùng mình, vội như khỉ nhảy xuống giường, mắng An Minh đóng cửa sổ lại, gọi nha hoàn vào hầu hạ rửa mặt chải đầu, khoác lên người bộ y phục thật dày, cuối cùng cũng kịp ra khỏi phòng trước khi sang cuối giờ mão.
Giờ mão, trời vẫn còn mờ mịt, An Bình và An Hỉ đi trước cầm đèn soi đường, Tần Vô Song và Mục Phỉ sóng vai nhau bước đi, hướng về phía phòng lan.
Trên đường, Mục Phỉ liên tục ngáp dài, mặt đầy oán khí, không ngừng liếc xéo Tần Vô Song để tỏ rõ bất mãn.
Tần Vô Song mắt nhìn thẳng, coi như không thấy.
Hai người đến phòng lan, Thạch lão phu tử đã sớm chờ sẵn trong phòng, hai người hành lễ với ông ấy xong, thì ai nấy về chỗ của mình.
Vì Tần Vô Song là nữ quyến, chỉ đến giám sát, nên phía sau án thư của Mục Phỉ được đặt một tấm bình phong sa thêu cao sơn lưu thủy, sau bình phong bố trí một bàn ghế để cho nàng ngồi nghe.
Thạch lão phu tử tự giới thiệu xong, liền thao thao bất tuyệt trình bày giáo lý giảng dạy của mình, sau đó chính thức bắt đầu buổi học.
“Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện. Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh... Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri; trí tri tại cách vật.”
Tần Vô Song ngồi sau bình phong, trông thấy Mục Phỉ chống tay lên cằm, gật gù, hiển nhiên đã buồn ngủ đến mức mơ màng.
Quả nhiên, Thạch lão phu tử đặt sách xuống, hỏi Mục Phỉ:
“Mục thiếu gia, vừa rồi lão phu giảng, người nhớ được bao nhiêu?”
“Á?” Mục Phỉ giật mình tỉnh dậy, nhất thời đầu óc mơ hồ, đến khi đối diện với ánh mắt dò hỏi của lão phu tử, mới hoàn hồn, vội lắc đầu đáp: “Không nhớ gì.”
Thạch lão phu tử không giận, từ tốn nói: “Vậy lão phu giảng lại lần nữa, đại học chi đạo, tại minh minh đức...”
Giảng xong chương đầu tiên, Thạch lão phu tử lại hỏi Mục Phỉ:
“Mục thiếu gia, người thử nói xem, cổ nhân muốn minh minh đức ư thiên hạ, thì trước tiên phải trị quốc, sau đó là gì?”
“Dục trị kỳ quốc giả...” Mục Phỉ ngập ngừng, suy nghĩ một chút, mắt đảo một vòng, cười hì hì nói: “Thưa thầy, học trò ngu dốt, không biết sau đó là gì.”
Thạch lão phu tử hơi chau mày, lại hỏi: “Vậy chương này, người nhớ được gì?”
Mục Phỉ càng thêm cợt nhả, nhún vai dang tay nói: “Học trò chẳng nhớ được gì cả.”
Người tinh mắt nhìn vào cũng biết Mục Phỉ là cố tình chống đối Thạch lão phu tử.
Thạch lão phu tử nhất thời sững lại, không biết nên nói gì tiếp.
Tần Vô Song lúc này từ sau bình phong thong thả cất lời:
“Hỏi ba câu không biết, phạt chép chương này một trăm lần.”
Mục Phỉ quay đầu trừng mắt nhìn về phía sau bình phong nơi Tần Vô Song đang ngồi: “Tần Vô Song, cô có tư cách gì phạt ta?!”
Tần Vô Song giơ tay nhẹ nhàng xoay chiếc nhẫn ngọc trong tay, mỉm cười nhàn nhạt: “Tất nhiên là theo ý chỉ của Thái hậu.”
Mục Phỉ đập bàn hét lớn: “Gia cứ không chép đấy!”
“Hai trăm lần.” Tần Vô Song cúi đầu vuốt ve chiếc nhẫn, vẫn như chẳng có chuyện gì.
Mục Phỉ bật dậy định xông ra cửa, An Minh và An Hỉ lập tức xông vào, chặn đường hắn.
Mục Phỉ dừng bước, trợn mắt quát hai người: “Các ngươi làm gì? Muốn tạo phản à?”
An Minh và An Hỉ lập tức mỗi người ôm lấy một bên chân Mục Phỉ, quỳ xuống van nài: “Thiếu gia à, ngài nghe lời mà ngồi xuống chép đi, tiểu nhân thực sự không thể thả ngài đi được, nếu không sẽ bị đánh trượng đó!”
Mục Phỉ cúi đầu, giận dữ nói: “Giờ ta lập tức phạt các ngươi mỗi đứa ba mươi trượng!”
An Hỉ mếu máo, ngẩng đầu vẻ uất ức: “Thiếu gia đợi đến lúc ngài thật sự có quyền quyết định hẵng phạt ạ.”
Mục Phỉ nghẹn họng, cơ mặt giật mấy cái, rồi hung hăng làm động tác "các ngươi cứ đợi đó" với An Hỉ và An Minh.
Hai người họ vội buông tay, vẫn quỳ chắn trước cửa, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, cúi đầu không nói.
Mục Phỉ tức giận quay lại, trở về án thư, không chịu ngồi xuống, mà khoanh tay trước ngực, quay sang hất cằm với Tần Vô Song:
“Gia không phục!”
Tần Vô Song hỏi: “Huynh không phục điều gì?”
Mục Phỉ lớn tiếng: “Ta không phục cô, dựa vào đâu để một mình tahọc! Có bản lĩnh thì côđọc lại nguyên văn đoạn thầy vừa giảng, nếu một chữ cũng không sai, ta sẽ tâm phục khẩu phục! Không những thế, ta còn tình nguyện chép ba trăm lần!”
“Được thôi.”
Tần Vô Song lập tức đồng ý, dứt khoát vô cùng.
Mục Phỉ bỗng nhiên có linh cảm chẳng lành.
“Nội dung phu tử hôm nay phu tử giảng là chương đầu trong Đại Học Trung Dung, chính là lời của Khổng Tử, do Tăng Tử thuật lại; giảng rõ đạo lý tu thân trị quốc của bậc thánh vương, lấy tu thân an dân làm gốc…… Phu tử, học trò nói như vậy, có đúng không?”
Không chỉ thuật lại rành rẽ từng chữ chương đầu mà phu tử giảng, Tần Vô Song thậm chí còn liền mạch đọc hết cả nội dung Đại Học, không sót một chữ.
Mục Phỉ nghe xong, lập tức sững sờ, không thốt nên lời.
Thạch lão phu tử mỉm cười khen ngợi:
“Rất đúng. Tiểu thư tuổi hãy còn trẻ, mà lại thuộc nằm lòng thiên thư này, chẳng hay tiểu thư từng đọc qua Tứ thư Ngũ kinh rồi chăng?”
Tần Vô Song khiêm nhường đáp: “Lão phu tử quá khen, Vô Song cũng chỉ biết qua loa một chút mà thôi.” Nói xong, nàng đứng dậy khẽ khàng hành lễ, nói: “Hôm nay phu tử giảng dạy vất vả rồi, mời phu tử lui nghỉ trước, ngày mai lại tiếp tục.”
Thạch phu tử khẽ gật đầu, theo sự dẫn dắt của hạ nhân mà lui ra.
Tần Vô Song vòng qua bình phong, ngồi xuống chiếc ghế tròn chếch đối diện Mục Phỉ, khẽ liếc mắt ra hiệu rồi nói: “Bắt đầu chép đi.”
“Chép thì chép!” Mục Phỉ hậm hực ngồi phịch xuống ghế, giật bút từ giá, quấy đại vào nghiên mực, rồi cắm đầu nguệch ngoạc viết như gà bới.
Tần Vô Song tựa mình trên ghế, vừa nhàn nhã lật xem Túy Ông Đình Ký, vừa nhấp ngụm trà nóng, thong dong tiêu sái.
Mục Phỉ liếc nàng một cái, trong lòng hận đến nghiến răng, nhưng lại chẳng làm gì được, đành lấy một tờ giấy khác, lén vẽ một bức họa chân dung Tần Vô Song, bên cạnh đề mấy chữ: “Mẫu Dạ Xoa, chính là Tần Vô Song.”
Chừng đó vẫn chưa hết giận, hắn lại dùng bút chấm lên mặt hình vẽ những nốt đen như mụn, còn cố ý vẽ môi cho thật dày, trông càng thêm xấu xí dị hợm. Đến lúc này, hắn mới thấy trong lòng dễ chịu phần nào.
Vừa đúng lúc giữa trưa, Thanh Tương cùng Nhuỵ Chu bưng cơm canh lên, bày ra bàn, bốn món một canh, có thịt có cá, mặn ngọt hài hòa, rất là phong phú.
Tần Vô Song chẳng buồn để ý, tự tay bưng chén bắt đầu dùng bữa.
Mục Phỉ thấy thức ăn chỉ được bày trước mặt Tần Vô Song, lại chỉ có một bát cơm trắng, chớp mắt hỏi Thanh Tương: “Cơm của ta đâu?”
Thanh Tương bị hỏi thì sợ đến co rúm, cúi đầu không dám trả lời.
Tần Vô Song liếc mắt nói: “Chép xong mới được ăn.”
Mục Phỉ “bốp” một tiếng, ném bút xuống bàn, chỉ tay quát lớn:
“Tần Vô Song! Cô dám ngược đãi ta?”
Tần Vô Song mím môi khẽ cười, bỗng xoay cây đũa bạc trong tay, rồi đột nhiên xiên mạnh vào bàn nhỏ trước mặt, một chiêu xuyên thẳng, chiếc đũa ngập một nửa vào gỗ. Nàng nhướng mày nói: “Thì sao?”
Mục Phỉ trông thấy cây đũa bạc cắm sâu, nuốt nước miếng đánh ực, lập tức co cổ lại, ngoan ngoãn cúi đầu, bắt đầu nghiêm túc chép phạt.
Tần Vô Song thong thả ăn hết cơm, chậm rãi súc miệng, rửa tay, nhấp trà, rồi lại điềm nhiên đọc sách.
Đến lúc đèn lồng được thắp sáng, bụng Mục Phỉ réo ầm ĩ, thấy Tần Vô Song vẫn mang dáng vẻ lạnh lùng, không hề nhượng bộ, hắn chỉ còn cách nghiến răng nhẫn nhịn, gắng sức chép đủ ba trăm lần, xong xuôi mới ném bút, chạy ra cửa lớn tiếng hét:
“Ta chép xong rồi! Mau mang cơm cho ta ăn!”
Thược Dược đã sớm chuẩn bị cơm tối, nghe tiếng gọi vội bê thức ăn vào dọn ra.
Mục Phỉ liền chộp lấy bát đũa, ăn như hổ đói sói khát, không màng hình tượng.
Từ đó về sau, Mục Phỉ chẳng dám lười biếng trong giờ học nữa, dù thế nào cũng gắng sức nghe giảng đến hết giờ.
Chỉ là, mỗi khi học xong, hắn như thể vừa chiến đấu ba trăm hiệp trong mộng cảnh, thân tâm mệt mỏi rã rời.
“Người không có đức, dẫu ban cho phúc, thì phúc ấy lại hóa tai vạ. Không thiên lệch, không nghiêng ngả, đi theo vương đạo… Không phe cánh, không thiên vị, vương đạo mới rộng thênh thang; Không bè đảng, không thiên tư, vương đạo mới được công chính; Không trái ngược, không nghiêng lệch, vương đạo mới chính trực… Trong ấy, luận về bè đảng, thực chất là chỉ những kẻ kết đảng làm điều gian trá.”
Hôm ấy, Thạch phu tử giảng đến chương Hồng Phạm trong Thượng Thư – Chu Thư, đột nhiên nhìn sang Mục Phỉ, hỏi:
“Mục thiếu gia, về luận 'bè đảng', người có ý kiến gì về luận điểm này không?”
Mục Phỉ đang thả hồn phiêu đãng, lập tức hoàn hồn, suy nghĩ một chút rồi đáp: “Ý kiến à, có đấy.”
“Vậy hãy nói thử xem.”
Mục Phỉ phản bác: “Học trò cho rằng, 'bè đảng' không nhất định là 'cấu kết làm bậy'. Dân gian có câu: 'Vật tụ theo loài, người chia theo nhóm', từ xưa đến nay, thiện ác cùng tồn tại trong triều, nếu bậc quân tử kết bạn đồng đạo vì nghĩa, thì có hại gì cho quốc gia đâu?”
Thạch phu tử nghe vậy, không tỏ rõ thái độ, chỉ bảo: “Người nói tiếp đi.”
Mục Phỉ lại nói: “Học trò cho rằng, quân tử với quân tử kết giao vì đạo, tiểu nhân với tiểu nhân kết giao vì lợi, đó là lẽ tự nhiên. Không thể vì tiểu nhân mà chối bỏ quân tử. Nếu trong triều có những người quân tử vì đại nghĩa mà kết thân, thì chẳng phải là phúc của quốc gia sao? Vậy nên nói “bè đảng làm bậy” không thể luận chung như vậy được.”
Thạch phu tử vuốt râu gật đầu, tuy không lời nào, nhưng vẻ mặt đã mang theo ý tán thưởng. Lão lại nhìn về phía sau bình phong, hỏi: “Tần Tiểu thư, người có cao kiến gì chăng?”
Những lời của Mục Phỉ khiến Tần Vô Song không khỏi kinh ngạc. Trước kia nàng cho rằng hắn chẳng khác gì kẻ ngỗ nghịch lười học, đối với đại sự quốc gia át hẳn là mù tịt. Nào ngờ hôm nay lại có thể đưa ra luận điểm sắc bén như thế, hắn so với tưởng tượng của nàng, quả thật thông minh hơn rất nhiều.
Theo lẽ, Thạch phu tử được mời đến chỉ để giảng dạy sách vở, nay lại lấy lời giảng bóng gió chuyện triều chính, rõ ràng là được ý chỉ của thái hậu, mượn cớ thử tài Mục Phỉ, muốn xem hắn có tư chất chính sự hay không.
Tuy nhiên, nàng thân là nữ tử, nếu bàn luận sâu về chính sự, e rằng chuốc vạ vào thân. Bèn đáp: “Chuyện triều chính, nữ tử không dám bàn bừa.”
Thạch phu tử sực tỉnh, vội gật đầu: “Là lão phu sơ suất rồi... Thôi thì hôm nay giảng đến đây thôi.”
Lại một tết Hoa Triều hàng năm.
Mục Phỉ bị nhốt trong phủ suốt hơn hai tháng, thấy kỳ hạn ba tháng sắp đến, lại vừa hay tết Hoa Triều sắp tới, trong lòng lại bắt đầu ngứa ngáy không yên.
Nhân ngày hôm ấy được nghỉ học, hắn bèn chạy tới phòng của Lão Thái Quân, năn nỉ hết bên trái lại đến bên phải, chỉ mong bà cho phép ra ngoài dạo xuân một chuyến.
Lão Thái Quân thấy Mục Phỉ suốt hai tháng qua quả thật đã chịu khó học hành, trong lòng mừng rỡ vô cùng. Lại nghĩ đến tết Hoa Triều mỗi năm chỉ có một lần, là thời điểm trăm hoa đua nở. Đứa nhỏ này cũng đã bị nhốt lâu ngày, cũng nên cho ra ngoài thư giãn thư giãn, bèn đồng ý để Mục Phỉ ra phủ dạo xuân, nhưng với điều kiện là phải dẫn theo Tần Vô Song đi cùng.
Khó khăn lắm mới được ra ngoài một chuyến, lại còn phải mang theo mẫu dạ xoa là Tần Vô Song, Mục Phỉ tất nhiên là chẳng vui vẻ gì. Nhưng Lão Thái Quân đã quyết ý, không dẫn Tần Vô Song theo thì đừng mơ bước ra khỏi cửa.
Hết cách, Mục Phỉ đành dẫn theo Tần Vô Song ra ngoài.
Dọc đường, hương hoa lan tỏa khắp thành, tiếng cười nói vang vọng bốn phương, nhà nhà đều bày ra mấy chậu hoa để nghênh đón Thần Hoa giáng lâm.
Ra khỏi thành, nơi nào có hoa đào liễu biếc, nơi ấy đều có nam nữ tụ hội thành nhóm, hoặc du ngoạn, hoặc tụ tiệc tao nhã, bẻ liễu cài hoa.
“Chúng ta đi đâu dạo xuân đây?” Tần Vô Song buông rèm xe xuống, hỏi.
Mục Phỉ ngồi dựa nghiêng vào vách xe, vẻ uể oải lười nhác, vì không thể rũ bỏ được Tần Vô Song nên chẳng còn hào hứng gì. Vốn định nói xuống xe ở phía trước, tùy tiện tìm nơi nào đó đi dạo là được.
Chợt liếc mắt nhìn sang Tần Vô Song, trong đầu loé lên ý tưởng, bèn nói: “Chỗ này nhiều người quá, hoa cỏ đẹp đẽ đều bị khách du xuân giẫm đạp tả tơi cả rồi. Chúng ta phải đến nơi ít người lui tới mới có thể thưởng thức cảnh sắc thật sự.”
“Nơi nào?”
Mục Phỉ cố ý làm ra vẻ thần bí: “Tới rồi cô sẽ biết.”
Lần này ra ngoài, Mục Phỉ chỉ chuẩn bị một cỗ xe ngựa rộng rãi, một chiếc xe bò chở đầy hoa quả, điểm tâm, rượu ngon cùng những vật dụng du xuân khác, mang theo ba bốn hạ nhân, cùng nha hoàn Nhụy Chu, tất cả đều cưỡi ngựa theo sát phía sau xe.
Mắt thấy đã quá trưa, đoàn người mới đến được nơi mà Mục Phỉ nhắc đến. Xuống xe nhìn ra, thì ra là chân một ngọn núi.
“Nơi này là đâu?” Tần Vô Song ngẩng đầu nhìn dãy núi hùng vĩ trước mắt, hỏi.
Mục Phỉ đáp: “Chỗ này gọi là Ngọc Chẩm Quan, vì hình thế ngọn núi giống như chiếc gối ngọc nên được đặt tên như vậy. Ra khỏi Ngọc Chẩm Quan, đi thẳng về phía bắc độ chừng vài trăm dặm, là tới biên giới giữa Kỳ Tống và Liêu Đan.”
Tần Vô Song nhíu mày, chăm chăm nhìn hắn hỏi: “Huynh đưa ta đến đây làm gì?”
Mục Phỉ đưa tay che ngang trán, nhìn về phương Bắc, vừa đáp: “Nơi này là chỗ cao nhất của Biện Đô, ta thường đến đây. Bởi vì đứng ở đây, vào ngày trời quang mây tạnh, có thể trông thấy mười bốn châu U Vân.”
Mười bốn châu U Vân, là sơn hà xưa của Trung Nguyên.
Từ sau khi cha con Sử gia nhận giặc làm cha, đem mười bốn châu ấy cắt nhượng cho Liêu Đan, thì vùng đất ấy chưa từng một lần trở lại tay người Trung Nguyên. Mất đi mười bốn châu U Vân, chẳng khác nào mở toang cánh cửa phía Bắc của Trung Nguyên, để mặc quân lính phương Bắc xâm nhập, mặc họ cướp bóc, giết chóc, đốt phá.
Sau khi Kỳ Tống lập quốc, hai triều Thái Tổ và Thái Tông gần như dốc cả quốc lực nhiều lần chinh phạt phương bắc, mong thu lại mười bốn châu ấy, nhưng đều thất bại.
Có thể nói, mười bốn châu U Vân là nỗi đau khôn nguôi trong lòng bao nhiêu nam tử của Kỳ Tống.
Trong khoảnh khắc ấy, Tần Vô Song dường như nhìn thấy nơi Mục Phỉ có một nguồn sức mạnh sâu không lường được, như đang lặng lẽ tích tụ chờ ngày bộc phát. Nhìn nghiêng gương mặt hắn, Tần Vô Song bất giác cảm thấy hình tượng Mục Phỉ bỗng trở nên cao lớn khác thường.
Chỉ là, vẻ cao lớn ấy chẳng kéo dài được bao lâu, lại trở về dáng vẻ bất cần đời vốn có. Mục Phỉ quay đầu lại cười nói: “Tất nhiên, lý do quan trọng hơn cả là nơi này khí hậu ôn hòa, rất thích hợp để trồng các loài hoa thảo, còn có một thứ rất hiếm thấy, gọi là 'Ngọc Đường Phú Quý'.”
“Ngọc Đường Phú Quý?” Tần Vô Song nghi hoặc.
Mục Phỉ giải thích: “Chính là hải đường, ngọc lan, mẫu đơn và hoa quế, bốn loài hoa này kết hợp lại, gọi là ‘Ngọc Đường Phú Quý’. Chỉ có tại nơi này, cô mới có thể nhìn thấy cảnh tượng bốn loài hoa ấy cùng nở rộ.”
Tần Vô Song hỏi: “Bây giờ là mùa nào rồi, mà vẫn còn hoa quế nở sao?”
Mục Phỉ cười thần bí: “Cái này cô không biết rồi, quế ở Ngọc Chẩm Quan là loài sớm nở. Lên đó xem là rõ.”
Vì xe ngựa không thể lên núi, bọn họ liền để xe cùng ngựa lại dưới chân núi, rồi men theo đường mòn đi bộ lên núi.
May thay, Biện Đô vốn là đất đồng bằng, núi Ngọc Chẩm cũng chẳng cao bao nhiêu, chẳng mấy chốc đã lên đến đỉnh.
Lên tới nơi, Tần Vô Song mới hiểu vì sao ngọn núi này gọi là “Ngọc Chẩm”.
Đỉnh núi bằng phẳng bốn bề, ở giữa hơi lõm xuống, trên phủ đầy cỏ cây xanh mướt, nhìn từ xa hệt như chiếc gối ngọc của thiên nhiên.
Trên đỉnh núi, quả như lời Mục Phỉ, vì địa thế cao ráo lại hướng về phía mặt trời, khí hậu đặc biệt ôn hòa, không biết là ai đã trồng đầy hoa cỏ khắp nơi, muôn màu muôn sắc, hoa nở như gấm dệt. Tần Vô Song lập tức bị cảnh sắc ấy hấp dẫn, đang định tiến vào sâu trong rừng hoa thì Mục Phỉ bỗng nói: “Ta thấy bụng hơi khó chịu, phải tìm nơi giải quyết chút việc. Cô cứ đi trước, lát nữa ta sẽ tìm tới.”
Tần Vô Song cũng không nghĩ ngợi gì, gật đầu, rồi cùng Nhụy Chu đi sâu vào trong.
Nhìn khắp một vùng xuân sắc rực rỡ phủ kín cả núi, trong lòng Tần Vô Song không khỏi cảm thán, cảnh đẹp thế này, cả ngọn núi Ngọc Chẩm Quan rộng lớn chỉ có mỗi họ đến thưởng ngoạn, thật là tiếc thay.
Chợt nàng nghĩ, Ngọc Chẩm Quan địa thế hẻo lánh, từ trong thành đến đây, nhanh nhất cũng mất hai ba canh giờ. Đến nơi rồi còn phải leo núi, khi lên tới nơi cũng đã quá trưa. Những kẻ chậm hơn nữa, e rằng khi tới đã là chiều. Khó trách không ai lui tới.
Nếu cảnh sắc như vầy được dời về gần ngoại thành, e là sớm đã chật ních người rồi.
Chủ tớ hai người dạo chơi thêm một lát, vẫn chẳng thấy bóng dáng Mục Phỉ đâu. Trong lòng bắt đầu lo, chẳng lẽ hắn đi lạc rồi, không tìm thấy họ nữa?
Thế là quay đầu trở lại, dọc đường không thấy một bóng người. Khi trở về chỗ cũ, mới phát hiện xung quanh đã vắng tanh.
“Tiểu thư, thiếu gia bọn họ không lẽ đã xuống núi rồi?” Nhụy Chu bắt đầu hoảng, nơi rừng núi hoang vu thế này, chỉ có hai cô nương, nếu xảy ra chuyện gì thì có kêu trời trời chẳng thấu, gọi đất đất chẳng hay.
Tần Vô Song khẽ nhíu mày, ngẩng đầu nhìn sắc trời, thấy đã chập chiều, lập tức quyết định: “Chúng ta xuống núi xem sao trước đã.”
Chỉ là, khi xuống núi, nào còn bóng dáng xe hay ngựa nữa, đã sớm biệt vô tung tích.
Lúc này, Tần Vô Song rốt cuộc cũng hiểu rõ, Mục Phỉ hoàn toàn là cố ý. Hắn cố tình dẫn nàng đến chốn hẻo lánh này, rồi cố ý bỏ mặc nàng lại, còn bản thân thì dẫn người bỏ đi mất.
Nhụy Chu cũng đã nhận ra, khóc òa lên: “Thiếu gia bỏ rơi chúng ta rồi! Giờ biết làm sao đây? Nghe nói nơi hoang dã thế này, đến đêm sẽ có sói hoang xuất hiện. Tiểu thư, nô tì không muốn bị sói ăn đâu…”
Tần Vô Song bất lực xoa trán, thở dài, an ủi: “Được rồi, đừng khóc nữa. Trời vẫn còn sớm, đừng lo lắng. Chúng ta cứ đi men theo đường cũ về, nếu gặp được xe ngựa trở về thành, thì nhờ, hoặc xin, thế nào cũng về được.”
Nghe thế, Nhụy Chu mới an lòng hơn đôi chút.
Hai người đang định quay lại đường cũ, nào ngờ Tần Vô Song vô tình bị trẹo chân, suýt chút nữa ngã nhào.
Nhụy Chu vội vàng quỳ xuống xem xét, thốt lên: “Ôi, sưng cả lên rồi!”
Tần Vô Song cúi xuống, xoa xoa mắt cá, lại thử xoay xoay: “Không sao đâu, chỉ là trẹo chân, giãn gân một chút, về xoa thuốc là ổn. Đừng lo, về được trước mới là quan trọng.”
Nhụy Chu bèn dìu nàng, vừa đi vừa khập khiễng hướng về thành.
Đi được một đoạn, xa xa thấy có lão nông đang dắt một con trâu nước lớn đi tới.
Nhụy Chu vui mừng chỉ về phía trước: “Tiểu thư, mau nhìn, trâu nước kìa!”
Tần Vô Song hỏi: “Ngươi có mang theo bạc không?”
“Có ạ.”
“Vậy ngươi qua đó hỏi mua.”
Nhụy Chu chạy đi, chẳng bao lâu đã dắt con trâu về, nói: “Tiểu thư mau lên, nô tì dắt người đi.”
Tần Vô Song bước tới, nhẹ nhàng vuốt ve đầu trâu, trò chuyện dăm câu, rồi mới vỗ vỗ lưng nó, thuận thế leo lên lưng trâu.
Con trâu kia lại cực kỳ hiền lành, không cần ai dắt cũng bước đi đều đều, Nhụy Chu mừng rỡ vô cùng.
Nàng đi trước dắt trâu, Tần Vô Song ngồi trên lưng, tiện tay bẻ nhành cây đuổi ruồi, vừa ngắm cảnh xuân, đột nhiên cảm thấy cũng không tệ lắm.
Buồn chán, nàng bèn ngắt một chiếc lá, đặt bên môi thổi thành một khúc nhạc.
Nhụy Chu nghe thấy, nhảy nhót phía trước, vui vẻ vô cùng.
Đúng lúc đó, phía trước có hai người cưỡi ngựa phóng tới, một người áo trắng ngựa trắng, một người áo đen ngựa đen. Khi đến gần thì chậm lại, ngoái đầu nhìn về phía họ.
Tần Vô Song đang thổi lá, liếc mắt nhìn qua.
Người trên lưng ngựa trắng, áo tuyết đai lụa, tóc dài vấn bằng trâm bạc, hai bên tóc mai sắc như dao khắc, mặt như trăng xuân, lông mày dài, mắt sáng, nhìn mà thấy thân thiết. Toàn thân toát lên phong thái quân tử ôn nhu như ngọc.
Người trên ngựa đen, mặc võ phục, dung mạo có phần kém hơn, nhưng lại toát ra khí thế cương mãnh, nhất là nơi chân mày khóe mắt, sát khí lẫm liệt.
Tần Vô Song vốn chẳng để tâm, nhưng thấy người cưỡi ngựa trắng đột nhiên ghìm cương đứng lại, chăm chú nhìn nàng không rời, trong mắt tuy có vài phần thất thần, nhưng không hề vô lễ.
Vì phép tắc, lúc đi ngang qua, Tần Vô Song ngồi trên lưng trâu khẽ mỉm cười, nhẹ nhàng gật đầu.
Người cưỡi ngựa trắng như sững lại.
Tác giả có lời muốn nói: Rốt cuộc sau muôn vàn lời gọi, nam thứ cũng đã xuất hiện!
Tôi thực sự rất mệt mỏi rồi, để nam thứ nhanh chóng ra sân, tôi đã phải đăng hai chương mấy ngày liền, đến mức cạn sạch bản thảo dự trữ. Mọi người đoán thử xem, nam thứ đối với nữ chính là “vừa gặp đã yêu” hay là “từng quen biết”? Đoán đúng có thưởng đó nha.
À, nếu không tưởng tượng ra được dung mạo và khí chất của nam thứ thì hãy nghĩ đến gương mặt của Chu Nhất Long là được.
Mười bốn châu U Vân: Đây là thời đại hư cấu tương tự nhà Tống, có ẩn dụ lịch sử, hẳn các bạn hiểu rồi.
Thằng nhóc con nghịch ngợm, cũng chỉ là cái cớ để nam thứ gặp nữ chính thôi……..
